Mùa vụ cà phê là gì?

Mùa vụ cà phê là toàn bộ chu kỳ một năm của cây cà phê. Chu kỳ bắt đầu từ lúc hái quả chín và kết thúc khi vườn sắp vào lần thu hoạch kế tiếp. Cà phê là cây lâu năm, nhưng năm nào cây cũng ra hoa, đậu quả và cho quả chín một lần. Vì thế việc làm vườn lặp lại theo năm.

Cành cà phê trĩu quả chín đỏ giữa tán lá xanh vào mùa thu hoạch
Ảnh minh họa: Michael Burrows / Pexels (Pexels License)

Hồ sơ cà phê Việt Nam trình Hội đồng Cà phê Quốc tế phiên 124 vào tháng 3/2019 có mã tài liệu ICC-124-9. Theo hồ sơ này, mùa cà phê Việt Nam bắt đầu ngày 1/10. Đó là lúc quả chín, việc hái và chế biến bắt đầu.

“Mùa vụ” là cách nói ngoài vườn, gắn với việc hái, tưới và chờ hoa. “Niên vụ” là cách nói của thống kê và thị trường, tức một khung 12 tháng cố định để cộng sản lượng, tiêu thụ và xuất khẩu. Người trồng cần biết vườn đang ở giai đoạn nào để lo tiền và nhân công. Đại lý, doanh nghiệp xuất khẩu và nhà đầu tư cần biết điều đó để đọc đúng giá, lượng hàng và các bản dự báo.

Theo tài liệu ICC-124-9, mốc 1/10 cũng là lúc mùa mưa kết thúc và mùa khô bắt đầu ở miền Nam. Bài trình bày hồ sơ cà phê Việt Nam tại ICO ngày 27/3/2019 cho biết miền Nam chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa. Miền Bắc có bốn mùa.

Niên vụ cà phê là gì và vì sao được ghi dạng "2025/26"?

Niên vụ cà phê là khoảng 12 tháng dùng để tính sản lượng, tiêu thụ và xuất khẩu của một vụ. Với cà phê Việt Nam, khoảng này chạy từ ngày 1/10 đến ngày 30/9 năm sau, nên được ghi bằng hai năm như “2025/26”. ICO gọi khung này là coffee year, tức năm cà phê. Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA FAS) gọi khung tháng 10 đến tháng 9 của Việt Nam là marketing year (MY), tức năm tiếp thị. Cách gọi này có trong báo cáo Vietnam: Coffee Annual của USDA FAS tháng 5/2026.

Niên vụ phải ghi hai năm vì mùa hái kéo qua ngày 1/1. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, cà phê ở Việt Nam được hái từ tháng 10 đến hết tháng 1 năm sau. Vì vậy “2025/26” là niên vụ bắt đầu ngày 1/10/2025 và kết thúc ngày 30/9/2026. Các cách ghi dưới đây trong báo cáo đều chỉ cùng một khoảng thời gian:

  • “2025/26” và “2025/2026”: cách ghi gọn và cách ghi đủ, có trong cả báo cáo tiếng Việt lẫn tiếng Anh.
  • “niên vụ 2025 - 2026”: cách ghi hay gặp trong văn bản trong nước, như Chỉ thị 011/CT-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk về cà phê niên vụ 2025–2026.
  • “MY 2025/26” và “coffee year 2025/26”: nhãn mà USDA FAS và ICO dùng cho cùng khoảng thời gian đó.

Robusta Việt Nam có thật sự chia vụ chính và vụ phụ không?

Mỗi năm, Robusta Việt Nam chỉ có một mùa hái tập trung. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, Robusta thường được hái từ giữa tháng 10 đến tháng 1 năm sau. Lịch này không khớp với cách chia “vụ chính, vụ phụ” mà nhiều blog và trang bán hàng dùng cho Robusta Việt Nam. Ngày hái còn tùy loại cà phê và từng vùng, nên mỗi vườn có thể hái sớm hoặc muộn hơn lịch chung.

Arabica có lịch riêng. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, Arabica thường được hái từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, chậm hơn Robusta. Bài trình bày hồ sơ cà phê Việt Nam tại ICO cho biết Arabica được trồng ở độ cao trên 1.200 m so với mặt biển, còn Robusta ở độ cao trên 500 m. Chuyện chọn giống như TR4, TRS1, hay chọn cà phê chè hoặc cà phê vối, nằm ở bài cà phê Robusta.

Một vụ cà phê gồm những giai đoạn nào? 5 giai đoạn trong 12 tháng

Một vụ cà phê Robusta Việt Nam gồm 5 giai đoạn nối tiếp nhau trong 12 tháng: thu hoạch, chăm sóc mùa khô, ra hoa, nuôi quả và giáp hạt. Đây là lịch phổ biến ở Tây Nguyên. Năm nào các mốc cũng có thể xê dịch theo thời tiết.

  1. Thu hoạch: tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
  2. Chăm sóc mùa khô: từ sau thu hoạch đến khoảng tháng 4.
  3. Ra hoa: tháng 2 đến tháng 4.
  4. Nuôi quả: tháng 5 đến tháng 8, trong mùa mưa.
  5. Giáp hạt: tháng 7 đến tháng 9, cuối niên vụ.

Các giai đoạn gối lên nhau, vì vườn nằm ở những độ cao khác nhau, thời tiết mỗi vùng mỗi khác và mỗi loại cà phê chín theo nhịp riêng. Lịch trên dành cho Robusta Tây Nguyên. Arabica ở vùng cao bắt đầu hái sớm hơn nhưng kết thúc cùng lúc với Robusta.

Sơ đồ 5 giai đoạn nối tiếp nhau trong 12 tháng của một niên vụ cà phê Robusta
Sơ đồ: 5 giai đoạn của một niên vụ cà phê Robusta Việt Nam – Nguồn: Hỏa Tốc 24h tổng hợp

Bảng 12 tháng của một niên vụ: ngoài vườn và trên thị trường

Hàng mới về nhiều nhất từ tháng 11 đến tháng 1, còn hàng khan nhất từ tháng 7 đến tháng 9. Thời tiết từ tháng 2 đến tháng 4 đặt nền cho sản lượng vụ sau.

ThángGiai đoạn ngoài vườnNhịp thị trường trong nướcĐiều cần theo dõi
Tháng 10Robusta bắt đầu hái từ giữa tháng; Arabica đã hái từ tháng 9Hàng vụ mới bắt đầu về đại lý, hàng vụ cũ còn ítICO mở coffee year mới (quý 1); Coffee Market Report hằng tháng của ICO
Tháng 11Thu hoạch, rộ từ giữa thángHàng tươi và hàng nhân vụ mới tăng dầnTiến độ thu hoạch, mưa bão giữa vụ
Tháng 12Thu hoạch rộ đến giữa thángNguồn hàng trong nước dồi dàoUSDA FAS Vietnam: Coffee Semi-Annual (02/12/2025); Coffee: World Markets and Trade bản cuối năm (18/12/2025)
Tháng 1Hái xong, vườn chuyển sang chăm sóc mùa khôHàng vụ mới tiếp tục được phơi, bán ra và xuất khẩuSố xuất khẩu theo tháng của Cục Hải quan; lượng mưa đầu năm
Tháng 2Chăm sóc mùa khô, bắt đầu ra hoaHàng bán ra theo nhu cầu tiền mặt của hộ trồngLượng mưa và các đợt tưới
Tháng 3Ra hoa, đậu quảHàng vụ cũ trong dân giảm dầnSố xuất khẩu quý I; khép lại nửa đầu niên vụ (tháng 10–3)
Tháng 4Cuối mùa hoa, cuối mùa khôHàng trong dân tiếp tục mỏngTình hình đậu quả cho vụ sau
Tháng 5Nuôi quả, mùa mưa đếnHàng vụ cũ còn ítUSDA FAS Vietnam: Coffee Annual với dự báo đầu tiên cho niên vụ tới (20/5/2026)
Tháng 6Nuôi quảBán ra theo lượng hàng còn giữCoffee: World Markets and Trade bản giữa năm (25/6/2025); Coffee Market Report của ICO dẫn số USDA (6/2026)
Tháng 7Nuôi quả, bắt đầu giáp hạtHàng vụ cũ khan dầnBản giữa năm 2026 của Coffee: World Markets and Trade (file tạo ngày 22/7/2026)
Tháng 8Nuôi quả, giáp hạtHàng khan, giá trong nước nhạy hơn với giá sàn LondonCoffee Market Report của ICO (8/2026); thời tiết vùng trồng
Tháng 9Giáp hạt; Arabica bắt đầu háiCuối vụ, hàng cũ còn rất ítQuý 4 của coffee year khép lại ngày 30/9; số tổng kết niên vụ

Tháng 10 đến tháng 1: thu hoạch, hàng mới về nhiều

Từ tháng 10 đến tháng 1 là mùa hái cà phê ở Việt Nam. Quả chín được hái, và cà phê nhân vụ mới, tức hàng của đợt hái mở đầu niên vụ, bắt đầu đổ về đại lý, kho và cảng. ICO ghi tháng 10 là lúc vụ thu hoạch ở Việt Nam thường bắt đầu. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, Robusta được hái rộ nhất từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12.

Thời tiết có thể làm mùa hái chậm lại. Theo ICO, đến ngày 21/11/2024, vụ thu hoạch cà phê Việt Nam mới đạt 20%, và Robusta chậm so với lịch vì thời tiết xấu. Niên vụ 2025/26 cũng gặp khó. Theo báo cáo USDA FAS ngày 02/12/2025, bão Kalmaegi và mưa rất lớn giữa mùa hái làm giảm năng suất ở một số vùng, nhất là Tây Nguyên.

Đây là lúc nguồn cung trong nước dồi dào nhất, vì hàng của cả một vụ ra cùng lúc. Theo USDA FAS, trong nửa đầu MY 2025/26, từ tháng 10/2025 đến tháng 3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 15,7 triệu bao, tăng 27,5% so với cùng kỳ. Lượng này vào khoảng 942.000 tấn.

Theo tài liệu ICC-124-9, quả cà phê ở Việt Nam chủ yếu được hái bằng tay. Vì thế mùa hái cũng là lúc hộ trồng cần nhiều nhân công và tiền mặt nhất. Bài giá cà phê trong nước hôm nay cập nhật giá mua hàng vụ mới tại vườn và đại lý.

Sau thu hoạch đến tháng 4: chăm sóc mùa khô

Từ sau thu hoạch đến khoảng tháng 4, vườn cà phê ở giai đoạn chăm sóc mùa khô. Đây là lúc cây phục hồi và chuẩn bị ra hoa cho vụ sau. Niên vụ mở ra đúng lúc mùa khô bắt đầu, nên phần lớn mùa hái và mùa chăm sóc đều rơi vào mùa khô.

Việc chính của giai đoạn này là tỉa cành, bón phân sau thu hoạch và tưới. Theo bài đăng tháng 6/2021 của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), cà phê thường được tưới 3 đợt trong một mùa khô. Tiền tưới, phân bón và nhân công dồn vào mấy tháng này. Vì vậy hộ trồng lại cần tiền mặt ngay sau khi vừa bán hàng vụ mới.

Tháng 2 đến tháng 4: ra hoa, giai đoạn quyết định vụ sau

Từ tháng 2 đến tháng 4, cà phê Robusta ra hoa và đậu quả. Số hoa đậu thành quả lúc này đặt nền cho sản lượng của niên vụ sau. Khi đó thị trường vẫn mua bán hàng của niên vụ cũ, nhưng nhà buôn, nhà rang xay và nhà đầu tư đã nhìn sang vụ tới.

Chùm hoa cà phê trắng nở trên cành giữa lá xanh trong giai đoạn ra hoa
Ảnh minh họa: Fauzan My / Pexels (Pexels License)

Lượng mưa trong mùa hoa là tín hiệu mà thị trường theo dõi sát. Theo báo cáo Vietnam: Coffee Annual của USDA FAS, lượng mưa từ tháng 1 đến tháng 3/2026 thấp hơn bình thường ở các vùng trồng chính của Tây Nguyên. Các vùng đó gồm Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và vùng Kon Tum cũ, nay thuộc Quảng Ngãi.

Chỉ khi hoa đã đậu mới ước được sản lượng vụ sau. Vì vậy các bản dự báo đầu tiên cho niên vụ tới thường ra sau mùa hoa. Nắng nóng, hạn hán và các đợt El Niño, La Niña tác động lên mùa hoa thế nào nằm ở bài thời tiết ảnh hưởng mùa vụ cà phê.

Tháng 5 đến tháng 8: nuôi quả trong mùa mưa

Từ tháng 5 đến tháng 8, quả cà phê lớn dần trong mùa mưa Tây Nguyên. Sản lượng vụ mới bắt đầu hiện rõ hơn trên cành.

Đây cũng là mùa của các bản dự báo. USDA FAS ra báo cáo năm Vietnam: Coffee Annual, ICO dẫn lại số của USDA trong Coffee Market Report. Sau đó đến bản giữa năm của Coffee: World Markets and Trade. Cùng lúc ấy, hàng của niên vụ 2025/26 vẫn được bán và xuất khẩu đến hết ngày 30/9, còn quả của niên vụ 2026/27 đang lớn trên cành.

Tháng 7 đến tháng 9: giáp hạt, cuối vụ hàng khan

Từ tháng 7 đến tháng 9 là giai đoạn giáp hạt. Cà phê vụ cũ trong dân và trong kho đã mỏng, còn hàng vụ mới chưa được hái. “Giáp hạt” là quãng nối giữa hai vụ, lúc lượng hàng thấp nhất trong năm.

Khi hàng trong dân ít, đại lý và doanh nghiệp cần hàng để giao hợp đồng có ít lựa chọn hơn. Vì vậy giá trong nước có thể bám sát hơn biến động của giá Robusta trên sàn London.

ICO chia coffee year thành 4 quý, trong đó tháng 7 đến tháng 9 là quý 4. Sổ sách khóa ngày 30/9. Vì thế hàng xuất khẩu trong tháng 9 vẫn thuộc niên vụ cũ, dù ngoài vườn Arabica đã bắt đầu được hái từ tháng 9.

Lịch thu hoạch cà phê theo từng vùng

Lịch hái chênh nhau giữa các vùng do độ cao, thời tiết và thổ nhưỡng. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, Đăk Hà (Kon Tum cũ) ở Quảng Ngãi, Chư Păh ở Gia Lai, Đắk R’lấp và Tuy Đức (Đắk Nông cũ) ở Lâm Đồng thường hái sớm hơn nơi khác khoảng 2 tuần. Mốc của từng tỉnh nằm ở bài lịch thu hoạch cà phê theo vùng.

Phơi sấy và bảo quản cà phê sau thu hoạch

Sau khi hái, quả cà phê phải được phơi hoặc sấy rồi bảo quản đúng cách để giữ chất lượng nhân. Đó cũng là điều kiện để hộ trồng giữ hàng chờ bán. Theo tài liệu ICC-124-9 của ICO, gần 80% khâu chế biến sau thu hoạch ở Việt Nam dùng nắng để phơi. Quy trình chi tiết nằm ở bài phơi sấy và bảo quản cà phê.

Bán non và găm hàng: hai cách bán định hình nhịp của một niên vụ

Bán non và găm hàng là hai cách bán ngược chiều nhau. Bán non là bán sớm để có tiền ngay, còn găm hàng là giữ hàng để chờ giá. Hai cách này góp phần tạo ra nhịp quen thuộc: đầu vụ hàng nhiều, cuối vụ hàng khan. Bán non và bán tươi gắn với mùa hái từ tháng 10 đến tháng 1, còn găm hàng kéo dài qua mùa khô tới lúc giáp hạt.

Quả cà phê Robusta phơi trên giàn cao dưới nắng sau thu hoạch ở Lâm Đồng
Ảnh minh họa: 1500m Coffee / Pexels (Pexels License)

Bán cà phê non là gì?

Bán cà phê non là việc nông dân bán, hoặc nhận tiền trước, khi quả cà phê còn trên cây hay chưa đủ chín. Giá hoặc khối lượng được thỏa thuận trước với thương lái hay đại lý. Dạng thường gặp là bán quả còn xanh, hái ép khi quả chưa chín đều, hoặc nhận ứng tiền, vật tư rồi trả bằng cà phê lúc thu hoạch.

Bán non khác bán cà phê tươi đầu vụ ở thời điểm chốt giao dịch. Bán non chốt giá hoặc khối lượng trước khi hái. Bán tươi là bán quả vừa hái, không phơi thành nhân. Bên mua thường là thương lái, đại lý thu mua hoặc người đã ứng vốn, vật tư cho hộ trồng.

Hái non kéo theo chuyện chất lượng. Theo tài liệu ICC-124-9, ở Tây Nguyên nhiều nơi tuốt cả quả xanh lẫn quả chín. Cách hái này bị coi là một nguyên nhân làm giảm chất lượng cà phê Việt Nam.

Vì sao nông dân bán cà phê tươi ngay đầu vụ?

Nông dân bán cà phê tươi ngay đầu vụ vì nhiều sức ép dồn đến cùng lúc. Họ cần tiền mặt để trả nợ, trả công hái và lo cho mùa khô, lại thiếu chỗ phơi và lo giá giảm khi hàng mới về nhiều. Các lý do thường gặp:

  • Cần tiền mặt ngay: hái tay cần nhiều nhân công, cộng thêm nợ vật tư và chi phí chăm sóc mùa khô sắp tới.
  • Thiếu sân phơi, máy sấy hoặc kho: phơi nắng là cách làm chính, nên hộ thiếu chỗ phơi khó giữ quả lâu.
  • Lo giá giảm khi hàng mới về nhiều: nguồn cung dồn vào tháng 11 và tháng 12 có thể kéo giá đầu vụ xuống.
  • Muốn chắc chắn: bán tươi được tiền ngay, bớt công phơi và rủi ro bảo quản, nhưng bỏ lại phần giá trị tăng thêm khi quả được phơi thành nhân.

Găm hàng cà phê chờ giá là gì?

Găm hàng cà phê chờ giá là việc nông dân hoặc đại lý giữ lại cà phê nhân đã phơi khô, chưa bán, để chờ giá cao hơn ở các tháng sau trong niên vụ. Hàng có thể nằm trong kho nhà hoặc được gửi vào kho của đại lý.

Muốn găm hàng, hộ trồng cần đủ vốn để chưa phải bán và có chỗ khô ráo để nhân không xuống cấp. Khi nhiều hộ cùng giữ hàng, đại lý và doanh nghiệp xuất khẩu đã ký hợp đồng khó gom đủ lượng giao. Họ có thể phải trả giá cao hơn hoặc gom chậm hơn.

Bán non và găm hàng mang lại rủi ro gì cho người trồng và nguồn cung cuối vụ?

Bán non có thể làm người trồng mất phần chênh lệch khi giá lên. Găm hàng thì đặt họ trước rủi ro giá giảm, hao hụt chất lượng và áp lực nợ. Cách nào cũng làm nguồn cung dồn vào những thời điểm nhất định của niên vụ.

Cách bánRủi ro cho người trồngẢnh hưởng tới nguồn cung và nhịp giá trong niên vụ
Bán nonGiá chốt trước có thể thấp hơn giá lúc hái; quả hái xanh làm giảm chất lượng; phụ thuộc bên ứng vốnHàng chất lượng thấp ra sớm; bên mua nắm nguồn hàng từ trước vụ
Bán tươi đầu vụBán đúng lúc nguồn cung dồi dào nhất; mất phần giá trị tăng thêm khi phơi thành nhânHàng dồn vào tháng 11 đến tháng 1, làm nguồn cung đầu vụ dày thêm
Găm hàngGiá có thể đảo chiều; tốn chi phí kho và lãi vay; nhân dễ ẩm mốc nếu bảo quản kémHàng mỏng giữa vụ, rồi có thể đổ ra cùng lúc khi giá quay đầu

Chính quyền địa phương cũng can thiệp vào khâu mua bán đầu vụ. Ngày 24/11/2025, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Chỉ thị 011/CT-UBND về bảo đảm sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ cà phê niên vụ 2025–2026. Chỉ thị giao Sở Công Thương kiểm tra việc thu mua, ngăn chặn ép giá, ép cân. Chỉ thị cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 11 ưu tiên vốn tín dụng.

Sản lượng cà phê ước tính qua từng niên vụ

Nhiều tổ chức, như USDA FAS, ước tính sản lượng mỗi niên vụ rồi sửa lại nhiều lần trong năm. Vì thế con số đáng tin nhất luôn đi kèm tên nguồn và ngày công bố. Bài sản lượng cà phê từng niên vụ tập hợp các bản ước tính theo thời gian.

Niên vụ cà phê Việt Nam khác niên vụ ICO thế nào?

Niên vụ cà phê Việt Nam trùng với coffee year của ICO, cùng chạy từ 1/10 đến 30/9. Nó khác crop year, tức năm mùa vụ, của nhiều nước sản xuất khác. Nó cũng khác năm thống kê tháng 1–12 mà Cục Hải quan dùng. Mỗi nước thu hoạch vào một thời điểm, còn coffee year là khung chung để cộng số liệu toàn cầu.

Nhầm mốc dễ dẫn tới cộng sai số xuất khẩu hoặc so sai sản lượng giữa hai nước. Theo Coffee Market Report tháng 10/2025, ICO tính sản xuất và tiêu thụ theo coffee year. Vì thế số của ICO có thể khác số của các nhà phân tích tính theo crop year.

Niên vụ Việt Nam, coffee year của ICO và crop year của Brazil

Niên vụ cà phê Việt Nam, coffee year của ICO và marketing year mà USDA dùng cho Việt Nam đều chạy từ tháng 10 đến tháng 9. Crop year của Brazil bắt đầu sớm hơn. Theo ICO, crop year của mỗi nước mở ra từ tháng mà vụ thu hoạch của nước đó bắt đầu.

ICO xếp các nước xuất khẩu thành viên theo ba mốc bắt đầu crop year: 1/4, 1/7 và 1/10. Mùa cà phê Việt Nam mở ra ngày 1/10, nên crop year của Việt Nam trùng với coffee year. Riêng với Brazil, hai tổ chức dùng hai mốc khác nhau: ICO lấy 1/4, USDA lấy tháng 7.

Khái niệmTổ chức dùngMốc bắt đầu và kết thúcGhi chú
Niên vụ Việt Nam (MY cho Việt Nam)USDA FAS1/10 đến 30/9MY 2026/27 bắt đầu từ tháng 10/2026
Coffee yearICO1/10 đến 30/9Chia 4 quý; dùng cho cân đối cung cầu toàn cầu
Crop year của Brazil theo ICOICO1/4 đến 31/3Ví dụ của ICO: crop year 2014/15 chạy từ 1/4/2014 đến 31/3/2015
Marketing year của Brazil theo USDAUSDA FASTháng 7 đến tháng 62026/27 (tháng 7/2026–6/2027): dự báo kỷ lục 71,9 triệu bao (khoảng 4,31 triệu tấn)

Vì vậy “vụ 2026/27” của Brazil theo USDA bắt đầu sớm hơn vụ cùng tên của Việt Nam 3 tháng. Theo ICO thì sớm hơn 6 tháng. Để quy sản lượng crop year về một coffee year, Ban Thư ký ICO lấy một phần sản lượng của crop year tháng 4–3 và một phần của crop year kế tiếp.

USDA cũng ghi marketing year của Colombia bắt đầu từ tháng 10, của Indonesia từ tháng 4. Vị trí của Brazil, Colombia và Indonesia trong nguồn cung toàn cầu nằm ở bài các nước sản xuất cà phê lớn.

Niên vụ tháng 10–9 khác năm thống kê tháng 1–12 ra sao?

Niên vụ tính từ tháng 10 năm trước đến tháng 9 năm sau, còn năm thống kê tính từ tháng 1 đến tháng 12. Vì vậy “xuất khẩu năm 2025” và “xuất khẩu niên vụ 2024/25” là hai con số khác nhau. Cục Hải quan công bố số xuất khẩu theo tháng và theo kỳ nửa tháng, còn các bản tổng hợp của Bộ Công Thương cộng theo năm dương lịch. ICO, USDA FAS và Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) tổng hợp theo niên vụ.

Cách tínhKhoảng thời gianNguồn thường dùngSố liệu điển hình
Năm dương lịch1/1 đến 31/12Cục Hải quan, Bộ Công Thương11 tháng năm 2025: 1,4 triệu tấn, trên 7,94 tỷ USD (số sơ bộ, Bộ Công Thương 05/12/2025)
Niên vụ1/10 đến 30/9VICOFA, ICO, USDA FASNiên vụ 2024/25: trên 1,5 triệu tấn, trên 8,4 tỷ USD (VICOFA, 24/10/2025)

Một năm dương lịch chứa 9 tháng cuối của một niên vụ và 3 tháng đầu của niên vụ sau. Ví dụ, theo Bộ Công Thương, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,23 triệu tấn cà phê trong 9 tháng đầu năm 2025. Lượng này là phần đuôi của niên vụ 2024/25. Muốn tự cộng số theo niên vụ từ số tháng của Hải quan, cần cộng từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 9 năm sau.

Hai nguồn tính theo niên vụ khớp nhau khi đổi về cùng đơn vị. USDA FAS ước xuất khẩu MY 2024/25 đạt 25,2 triệu bao, tức khoảng 1,51 triệu tấn. Con số này sát mức trên 1,5 triệu tấn mà VICOFA công bố. Diễn biến xuất khẩu theo tháng và theo thị trường nằm ở bài số liệu xuất khẩu cà phê Việt Nam.

Cách đọc nhãn niên vụ trong báo cáo của USDA và ICO

Trong báo cáo của USDA và ICO, nhãn niên vụ luôn ghi hai năm kèm mốc bắt đầu. Con số đi theo nhãn thường tính bằng bao 60 kg chứ không phải tấn. Bốn nhãn hay gặp nhất là:

  1. Năm tiếp thị (MY, marketing year): “MY 2026/27” trong báo cáo của USDA FAS về Việt Nam là khoảng từ 1/10/2026 đến 30/9/2027.
  2. Năm cà phê (coffee year) và năm mùa vụ (crop year): coffee year của ICO luôn chạy từ 1/10 đến 30/9, còn crop year của mỗi nước bắt đầu từ tháng vụ thu hoạch nước đó bắt đầu. Theo ICO, số liệu theo crop year chỉ dành cho thuê bao.
  3. Bao 60 kg (60-kg bags), nghìn bao (thousand bags) và tương đương cà phê nhân (GBE, green bean equivalent): 1 triệu bao bằng 60.000 tấn. GBE nghĩa là mọi dạng cà phê đều được quy về khối lượng cà phê nhân, nên 32,5 triệu bao GBE bằng khoảng 1,95 triệu tấn cà phê nhân.
  4. Dự báo (forecast), ước tính (estimate) và số đã điều chỉnh (revised): USDA FAS dùng “Post forecasts” cho số MY 2026/27 và “Post revises … upward” cho số MY 2025/26 đã được nâng lên. ICO dùng chữ ước tính cho vụ đã khép lại, như mức 29,19 triệu bao, tức khoảng 1,75 triệu tấn, của coffee year 2024/25 trong Coffee Market Report tháng 10/2025.

Riêng niên vụ 2025/26, USDA FAS đã đổi con số ba lần, và bản mới nhất là bản cao nhất. Bản tháng 5/2025 ghi 31 triệu bao, khoảng 1,86 triệu tấn. Bản ngày 02/12/2025 hạ xuống 30,8 triệu bao, khoảng 1,85 triệu tấn. Bản ngày 20/5/2026 nâng lên 31,7 triệu bao, khoảng 1,90 triệu tấn.

Ba lần USDA FAS công bố sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2025/26

triệu bao 60 kg0102030403130,831,7Dự báo 5/2025Dự báo 12/2025Điều chỉnh 5/2026Dự báo 5/2025 31 triệu bao 60 kgDự báo 12/2025 30,8 triệu bao 60 kgĐiều chỉnh 5/2026 31,7 triệu bao 60 kg
Xem số liệu
Đơn vị: triệu bao 60 kgGiá trị
Dự báo 5/202531
Dự báo 12/202530,8
Điều chỉnh 5/202631,7
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: USDA FAS, 02/12/2025 và 20/5/2026

Làm sao theo dõi một niên vụ cà phê đang diễn ra?

Muốn theo dõi một niên vụ đang chạy, cần nhìn cùng lúc 5 nguồn tín hiệu. Đó là giá trong nước, giá sàn London và New York, số xuất khẩu theo tháng, các bản dự báo sản lượng và thời tiết ở Tây Nguyên. Thời tiết tháng 2 đến tháng 4 báo trước vụ sau, còn số xuất khẩu tháng 10 đến tháng 1 cho biết hàng mới ra nhanh hay chậm.

Cần theo dõiNguồnThời điểm thường công bốTrang trên Hỏa Tốc 24h
Giá trong nướcCác nguồn thu mua trong nướcHằng ngàygiá cà phê trong nước
Giá sàn London và New YorkCác nguồn quốc tế uy tínHằng ngày, theo phiên giao dịch—
Số xuất khẩu theo thángCục Hải quan; Bản tin thị trường nông, lâm, thủy sản của Bộ Công ThươngTheo tháng và theo kỳ nửa thángxuất khẩu cà phê theo tháng
Dự báo sản lượngUSDA FAS (Coffee Annual, Coffee Semi-Annual, Coffee: World Markets and Trade); ICOCoffee Annual: bản gần nhất ngày 20/5/2026; Semi-Annual: bản gần nhất ngày 02/12/2025; World Markets and Trade hai lần mỗi năm; ICO hằng thángbảng sản lượng ước tính
Thời tiết mùa ra hoa và mùa thu hoạchTrung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc giaCần xem sát tháng 2–4 (mùa hoa) và tháng 10–1 (mùa hái)thời tiết và sản lượng cà phê

USDA FAS ra Coffee: World Markets and Trade vào tháng 6 và tháng 12, với các bản gần đây ngày 20/12/2023, 20/6/2024, 18/12/2024, 25/6/2025 và 18/12/2025. Mỗi con số chỉ có nghĩa khi đi cùng ngày công bố. Cùng một niên vụ có thể có nhiều bản dự báo khác nhau.

Niên vụ 2026/2027 bắt đầu ra sao?

Niên vụ cà phê 2026/2027 của Việt Nam bắt đầu ngày 1/10/2026 và kết thúc ngày 30/9/2027. Bản dự báo đầu tiên của USDA FAS, công bố ngày 20/5/2026, cho thấy sản lượng tiếp tục tăng.

Theo USDA FAS, sản lượng MY 2026/27 dự kiến đạt 32,5 triệu bao GBE, khoảng 1,95 triệu tấn. Trong đó Robusta chiếm 31,4 triệu bao, Arabica 1,1 triệu bao. Mức này tăng 2,5% so với 31,7 triệu bao của MY 2025/26.

Nếu dự báo đúng, đây là niên vụ thứ ba liên tiếp sản lượng tăng. Trước đó, Coffee Market Report tháng 10/2025 của ICO ghi sản lượng coffee year 2024/25 tăng 9,0%. USDA cho biết diện tích Robusta mở rộng vì giá lên đỉnh trong các năm 2024–2025. Các bản cập nhật tiếp theo nằm ở bài dự báo sản lượng niên vụ mới.

Với thị trường châu Âu, Ủy ban châu Âu cho biết quy định sản phẩm không gây phá rừng (EUDR) áp dụng với doanh nghiệp lớn và vừa từ ngày 30/12/2026. Doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ áp dụng từ ngày 30/6/2027. Cà phê nằm trong danh mục hàng hóa chịu quy định này. Tác động với lô hàng vụ mới nằm ở bài quy định chống phá rừng của EU.

Giáp hạt khép một chu kỳ, còn đợt hái từ tháng 10 mở chu kỳ mới. Những tuần tới, tiến độ hái nằm ở bài lịch hái cà phê từng vùng. Giá mua mỗi ngày nằm ở bài diễn biến giá cà phê trong nước hằng ngày.

Cách đọc số liệu: Số trong bài quy từ bao 60 kg của USDA FAS và ICO ra tấn, với 1 triệu bao bằng 60.000 tấn. Số của niên vụ 2026/27 là dự báo và sẽ còn được sửa trong năm. Lịch hái theo tháng lấy theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h và mỗi năm có thể xê dịch theo thời tiết. Số theo năm dương lịch lấy từ Cục Hải quan qua Bộ Công Thương, số theo niên vụ lấy từ VICOFA, ICO và USDA FAS.