Ba cặp khái niệm quyết định cách đọc mọi con số trong bài. Cà phê nhân là hạt xanh chưa rang, còn cà phê chế biến gồm cà phê rang xay và cà phê hòa tan. Năm dương lịch chạy từ tháng 1 đến tháng 12; niên vụ, hay năm cà phê theo định nghĩa của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), chạy từ tháng 10 năm trước đến tháng 9 năm sau. Xếp hạng sản xuất đo lượng cà phê làm ra, còn xếp hạng xuất khẩu đo lượng bán ra nước ngoài; ICO xếp nước sản xuất theo năm cà phê và nước xuất khẩu theo năm dương lịch. USDA FAS, cơ quan phụ trách thương mại nông sản quốc tế của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tách riêng xuất khẩu cà phê hạt với tổng xuất khẩu quy ra hạt xanh, gồm cả cà phê rang và hòa tan.
Thứ hạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê, sau Brazil, và đứng đầu về robusta. Theo dữ liệu USDA FAS, tổng xuất khẩu cà phê của Việt Nam niên vụ 2025/26, kể cả cà phê rang và hòa tan, được dự báo đạt 27,9 triệu bao 60 kg, chỉ sau Brazil. Bộ Công Thương cũng xếp Việt Nam là nước xuất khẩu robusta hàng đầu thế giới.
Số liệu xuất khẩu kỳ gần nhất
Theo Cục Hải quan, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu 1,59 triệu tấn cà phê, thu về hơn 8,9 tỷ USD tính theo năm dương lịch. Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính lượng xuất khẩu đạt 1,4 triệu tấn và kim ngạch đạt 6,54 tỷ USD.
| Chỉ số | Giá trị, nguồn và kỳ số liệu |
|---|---|
| Thứ hạng xuất khẩu thế giới | Thứ hai, sau Brazil (USDA FAS, niên vụ 2025/26) |
| Lượng xuất khẩu | 1,59 triệu tấn năm 2025, tăng 18,3% (Cục Hải quan); 1,4 triệu tấn trong 9 tháng 2026, tăng 15,4% so với cùng kỳ (ước tính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) |
| Kim ngạch | Hơn 8,9 tỷ USD năm 2025, tăng gần 59% (Cục Hải quan); 6,54 tỷ USD trong 9 tháng 2026, giảm 7,3% so với cùng kỳ (ước tính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) |
| Giá bình quân | 5.661 USD/tấn năm 2025 (Cục Hải quan); 4.537,3 USD/tấn trong 9 tháng 2026 (ước tính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) |
| Thị phần thế giới | Khoảng 21% lượng cà phê hạt xuất khẩu toàn cầu niên vụ 2025/26 (tính từ báo cáo USDA FAS ngày 22/7/2026) |
Số năm 2025 là số chính thức của Cục Hải quan, còn số 9 tháng 2026 là ước tính hằng tháng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Năm 2026 cho thấy lượng tăng nhưng kim ngạch giảm, vì giá bình quân thấp hơn gần 20% so với cùng kỳ. Số tháng 7/2026 trong số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h (147.890 tấn, 643 triệu USD) khớp với số Cục Hải quan công bố (147.890 tấn, 642,5 triệu USD). Diễn biến của từng tháng nằm ở trang số liệu xuất khẩu cà phê từng tháng.
Thứ hạng theo từng cách xếp
Vị trí của Việt Nam thay đổi theo cách xếp hạng: thứ hai về sản xuất và xuất khẩu, thứ nhất về robusta. Bảng dưới đặt các cách xếp có nguồn cạnh nhau để người đọc không nhầm giữa sản lượng và lượng bán ra.
| Cách xếp hạng | Vị trí của Việt Nam | Nguồn và kỳ |
|---|---|---|
| Sản xuất tổng | Thứ hai, sau Brazil (32,5 so với 71,9 triệu bao) | USDA FAS, dự báo niên vụ 2026/27, công bố 22/7/2026 |
| Xuất khẩu tổng, kể cả rang và hòa tan | Thứ hai, sau Brazil | USDA FAS, niên vụ 2025/26 |
| Robusta | Thứ nhất về sản xuất và xuất khẩu | Báo Nông nghiệp và Môi trường, 8/11/2025; Bộ Công Thương, 10/10/2025 |
| Cà phê hạt (cà phê nhân) | Sau Brazil: 25,4 so với 45,0 triệu bao | USDA FAS, dự báo niên vụ 2026/27, công bố 22/7/2026 |
Với Việt Nam, xếp hạng sản xuất và xếp hạng xuất khẩu trùng nhau ở vị trí thứ hai. Robusta có bảng xếp hạng riêng vì đây là một trong hai loại cà phê thương mại chính, bên cạnh arabica, và gần 95% sản lượng cà phê Việt Nam là robusta theo USDA. Đặc điểm của loại cà phê này được trình bày ở trang cà phê robusta. Mảng cà phê chế biến được USDA FAS tính riêng: niên vụ 2026/27, Việt Nam dự kiến xuất khẩu 3,55 triệu bao cà phê hòa tan và rang, quy ra hạt xanh.
Thị phần cà phê Việt Nam trên thế giới
Tính từ báo cáo Coffee: World Markets and Trade ngày 22/7/2026 của USDA FAS, Việt Nam chiếm khoảng 21% lượng cà phê hạt xuất khẩu của thế giới niên vụ 2025/26. Phép tính lấy 25,1 triệu bao của Việt Nam chia cho 119,5 triệu bao của toàn thế giới, cùng một báo cáo và cùng niên vụ.
Với số dự báo niên vụ 2026/27, tỷ lệ này còn khoảng 19,3% (25,4 trên 131,4 triệu bao), vì xuất khẩu của thế giới tăng 11,9 triệu bao, phần lớn từ Brazil. Về sản xuất, Việt Nam chiếm khoảng 17,1% sản lượng thế giới niên vụ 2026/27 (32,5 trên 189,7 triệu bao). Tính theo giá trị, thị phần của Việt Nam có thể thấp hơn tỷ lệ theo lượng, vì phần lớn hàng là robusta, loại có giá thấp hơn: tháng 12/2025, robusta ở mức 4,2 USD/kg còn arabica 8,4 USD/kg, theo Ngân hàng Thế giới.
So sánh với Brazil, Colombia và Indonesia
Brazil dẫn đầu cả về sản xuất lẫn xuất khẩu, Việt Nam đứng thứ hai và vượt xa các nước còn lại. Bảng dưới lấy số của cả bốn nước từ cùng báo cáo USDA FAS ngày 22/7/2026; một bao bằng 60 kg.
| Nước | Sản lượng niên vụ 2025/26 (triệu bao) | Sản lượng niên vụ 2026/27, dự báo (triệu bao) | Quy ra tấn (2026/27) | Thay đổi (triệu bao) |
|---|---|---|---|---|
| Brazil | 63,0 | 71,9 | 4.314.000 | +8,9 |
| Việt Nam | 31,7 | 32,5 | 1.950.000 | +0,8 |
| Colombia | 12,5 | 13,4 | 804.000 | +0,9 |
| Indonesia | 12,4 | 11,4 | 684.000 | −1,0 |
| Thế giới | 178,8 | 189,7 | 11.382.000 | +10,8 |
Sản lượng dự báo của Brazil gấp khoảng 2,2 lần Việt Nam; về cà phê hạt xuất khẩu, Brazil dự kiến bán 45,0 triệu bao so với 25,4 triệu bao của Việt Nam. Ở mảng robusta, toàn bộ sản lượng của Indonesia chỉ bằng khoảng 36% sản lượng robusta của Việt Nam (11,4 so với 31,4 triệu bao). Brazil cũng trồng robusta: USDA dự báo nước này làm ra 24,4 triệu bao canephora, tên chung của robusta và conilon, bên cạnh 47,5 triệu bao arabica.

Kỷ lục kim ngạch xuất khẩu cà phê
Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam lập kỷ lục năm 2025: hơn 8,9 tỷ USD theo năm dương lịch, theo Cục Hải quan, và 8,4 tỷ USD theo niên vụ 2024/2025, theo VICOFA (Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam). Kỷ lục đến chủ yếu từ giá: năm 2025, lượng tăng 18,3% còn kim ngạch tăng gần 59%.
Ước tính công bố cuối năm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi 8,57 tỷ USD cho năm 2025, thấp hơn số chính thức của Cục Hải quan. Theo VICOFA, kim ngạch niên vụ 2024/2025 tăng 55,5% so với niên vụ trước. Bộ Công Thương và Tạp chí Công Thương nêu ba nguyên nhân chính, xếp theo mức tác động:
- Khô hạn và nắng nóng kéo dài làm giảm sản lượng arabica ở Brazil, Colombia và các nước Nam Mỹ, đẩy giá cà phê thế giới tăng.
- Mỹ áp thuế nhập khẩu 50% với cà phê Brazil, khiến các nhà rang xay tìm nguồn cung khác.
- Ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) giúp cà phê Việt Nam cạnh tranh hơn tại châu Âu.
Sang năm 2026, diễn biến đảo chiều. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm do giá bình quân đi xuống, theo Báo Chính phủ ngày 28/9/2026.
Năm dương lịch và niên vụ khác nhau
Kỷ lục theo năm dương lịch tính từ tháng 1 đến tháng 12, còn kỷ lục theo niên vụ tính từ tháng 10 năm trước đến tháng 9 năm sau. Vì vậy hai con số khác nhau nhưng đều đúng.
| Kỳ | Khoảng thời gian | Kim ngạch và lượng | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Năm dương lịch 2025 | Tháng 1–12/2025 | Hơn 8,9 tỷ USD; 1,59 triệu tấn | Cục Hải quan |
| Niên vụ 2024/2025 | Tháng 10/2024–9/2025 | 8,4 tỷ USD; hơn 1,5 triệu tấn | VICOFA |
Hai kỳ trùng nhau 9 tháng, từ tháng 1 đến tháng 9/2025, và chỉ lệch nhau ba tháng cuối năm. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, tháng 10–12/2025 mang về 1.850 triệu USD (394, 508 và 948 triệu USD), còn tháng 10–12/2024 chỉ đạt 1.299 triệu USD (260, 352 và 687 triệu USD). Khoản chênh khoảng 551 triệu USD giải thích phần lớn khoảng cách giữa hai kỷ lục.
Khi đọc tin, người đọc nên tìm chữ "năm" hay "niên vụ" và các tháng đầu, cuối của kỳ. Số của các bộ dữ liệu khác nhau cũng có thể lệch nhau: số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h ghi 7.937 triệu USD và 1.386.797 tấn cho vụ 2024-25, thấp hơn mức 8,4 tỷ USD mà VICOFA công bố cho cùng niên vụ, nên chỉ so sánh các số cùng một nguồn. Cách chia niên vụ trong nước được giải thích ở trang niên vụ cà phê Việt Nam.
Xuất khẩu cà phê theo tháng
Lượng cà phê xuất khẩu dồn vào nửa đầu niên vụ. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, tháng 10 có lượng thấp nhất ở cả hai vụ, rồi lượng lên cao trong khoảng tháng 12 đến tháng 4. Đỉnh của vụ 2025-26 là tháng 1/2026 với 224.348 tấn; đỉnh của vụ 2024-25 là tháng 3/2025 với 180.581 tấn.
Số liệu này tính vụ 2024-25 từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025 và vụ 2025-26 từ tháng 10/2025 đến tháng 9/2026, tháng gần nhất có số liệu.
| Chỉ tiêu vụ 2025-26 | Giá trị | So với vụ 2024-25 |
|---|---|---|
| Tổng lượng | 1.790.559 tấn | +29,1% |
| Tổng giá trị | 8.422,7 triệu USD | +6,1% |
| Giá bình quân | 4.704 USD/tấn | −17,8% |
Lượng xuất khẩu cà phê theo tháng – Vụ 2024-25 và 2025-26
■Vụ 2024-25 ■Vụ 2025-26
Xem số liệu
| Đơn vị: tấn | Vụ 2024-25 | Vụ 2025-26 |
|---|---|---|
| T10 | 45.412 | 68.316 |
| T11 | 63.019 | 88.812 |
| T12 | 127.655 | 182.967 |
| T1 | 134.005 | 224.348 |
| T2 | 169.832 | 142.337 |
| T3 | 180.581 | 221.975 |
| T4 | 166.403 | 191.093 |
| T5 | 148.762 | 143.378 |
| T6 | 117.983 | 128.813 |
| T7 | 67.984 | 147.890 |
| T8 | 84.062 | 127.903 |
| T9 | 81.099 | 122.727 |
Giá trị xuất khẩu cà phê theo tháng – Vụ 2024-25 và 2025-26
■Vụ 2024-25 ■Vụ 2025-26
Xem số liệu
| Đơn vị: triệu USD | Vụ 2024-25 | Vụ 2025-26 |
|---|---|---|
| T10 | 260 | 394 |
| T11 | 352 | 508 |
| T12 | 687 | 948 |
| T1 | 729 | 1.081 |
| T2 | 964 | 672 |
| T3 | 1.061 | 990 |
| T4 | 965 | 826 |
| T5 | 860 | 641 |
| T6 | 678 | 594 |
| T7 | 460 | 643 |
| T8 | 460 | 572 |
| T9 | 462 | 555 |
Vụ 2025-26 có lượng xuất khẩu cao hơn vụ trước ở 10/12 tháng; chỉ tháng 2 (−16,2%) và tháng 5 (−3,6%) thấp hơn, còn tháng 7 tăng mạnh nhất, +117,5%. Vụ 2025-26 xuất khẩu nhiều hơn hẳn nhưng giá thấp hơn, nên giá trị tăng ít hơn nhiều so với lượng. Bảng đầy đủ và số mới của từng tháng nằm ở trang sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê theo tháng.
Thị trường nhập khẩu lớn nhất
EU là thị trường lớn nhất của cà phê Việt Nam, chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu, với Đức, Ý và Tây Ban Nha là các khách hàng chủ lực ổn định, theo Bộ Công Thương ngày 10/10/2025. Nhật Bản, Mỹ, Nga và Hàn Quốc cũng tăng mua. Bảng xếp hạng theo từng nước nằm ở trang thị trường nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất.
Tỷ trọng cà phê chế biến
Cà phê chế biến chiếm phần nhỏ về lượng nhưng có giá cao hơn cà phê nhân. Theo VICOFA, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu khoảng 143.425 tấn cà phê rang, hòa tan và phối trộn, thu về hơn 1,4 tỷ USD. USDA FAS dự báo cà phê hòa tan và rang chiếm khoảng 12,3% tổng xuất khẩu quy ra hạt xanh niên vụ 2026/27. Phân tích chi tiết nằm ở trang tỷ trọng cà phê chế biến.
Giá xuất khẩu cà phê bình quân
Giá xuất khẩu bình quân bằng kim ngạch chia cho lượng của cả kỳ, nên đây là số tổng hợp, không phải giá giao dịch trong ngày. Theo Cục Hải quan, giá này đạt 5.661 USD/tấn năm 2025, tăng gần 40%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính còn 4.537,3 USD/tấn.
| Kỳ | Giá bình quân (USD/tấn) | So với kỳ trước | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Năm 2025 | 5.661 | Tăng gần 40% so với năm 2024 | Cục Hải quan |
| Vụ 2025-26 (tháng 10/2025–9/2026) | 4.704 | −17,8% so với vụ 2024-25 (5.723 USD/tấn) | Số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h |
| 9 tháng 2026 | 4.537,3 | Thấp hơn gần 20% so với cùng kỳ | Bộ Nông nghiệp và Môi trường (ước tính) |
| Tháng 7/2026 | 4.345 | −20,4% so với cùng kỳ | Cục Hải quan |
Năm 2026, lượng tăng còn giá giảm. Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, giá bình quân tháng của vụ 2025-26 gần như ngang vụ trước trong ba tháng đầu (tháng 10–12), thấp hơn từ tháng 1 và thấp hơn khoảng 20–36% từ tháng 3 trở đi. Vì vậy, từ tháng 2 đến tháng 6, giá trị từng tháng của vụ 2025-26 thấp hơn vụ 2024-25 dù lượng phần lớn cao hơn. Theo Cục Hải quan, giá tháng 7/2026 là mức thấp nhất kể từ tháng 6/2024.
Giá sàn London tác động thế nào
Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam bám theo giá robusta trên sàn London: giá sàn lên thì giá xuất khẩu lên, giá sàn xuống thì giá xuất khẩu xuống, nhưng có độ trễ vì nhiều hợp đồng được ký trước. "Sàn London" là hợp đồng kỳ hạn Robusta Coffee Futures của ICE Futures Europe, tức thỏa thuận mua bán chốt giá hôm nay cho một tháng giao hàng sau này. Theo đặc tả của ICE, mỗi hợp đồng là 10 tấn, giá yết bằng USD/tấn, bước giá 1 USD/tấn, giao hàng vào các tháng 1, 3, 5, 7, 9 và 11. ICO cũng dùng giá kỳ hạn robusta London làm chuỗi giá tham chiếu.
- Giá sàn hình thành trong mỗi phiên giao dịch tại London, từ 9 giờ đến 17 giờ 30 giờ địa phương, và là giá tham chiếu cho robusta của mọi xuất xứ được tự do xuất khẩu.
- Nhà xuất khẩu chào giá bằng giá sàn của một kỳ hạn cụ thể, cộng hoặc trừ mức chênh lệch, tức khoản cộng thêm hay trừ bớt theo chất lượng hạt, xuất xứ và thời điểm giao.
- Giá bình quân tháng mà Cục Hải quan ghi nhận gồm các lô giao trong tháng, nhiều lô đã chốt giá từ trước, nên đi sau giá sàn.
Nông dân và doanh nghiệp đọc giá sàn để biết xu hướng giá tham chiếu, không phải giá bán tại kho của mình. Giá FOB là giá hàng đã lên tàu tại cảng xuất; giá FOB và giá sàn mới nhất được cập nhật ở trang giá cà phê robusta sàn London.
Quy đổi USD/tấn sang đồng/kg
Giá tính bằng đồng/kg bằng giá USD/tấn nhân với tỷ giá USD/VND, rồi chia cho 1.000, vì một tấn bằng 1.000 kg. Ví dụ dưới đây dùng giá xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính và tỷ giá Vietcombank lúc 15 giờ 37 phút ngày 10/10/2026.
- Lấy giá bình quân: 4.537,3 USD/tấn (ước tính 9 tháng năm 2026).
- Nhân với tỷ giá bán của Vietcombank, 26.070 đồng/USD: 4.537,3 × 26.070 = 118.287.411 đồng/tấn.
- Chia cho 1.000: khoảng 118.287 đồng/kg.
Kết quả phụ thuộc vào tỷ giá được chọn: với tỷ giá mua chuyển khoản 25.690 đồng/USD của Vietcombank cùng thời điểm, giá quy đổi khoảng 116.563 đồng/kg. Tỷ giá có thể lấy từ bảng tỷ giá của ngân hàng thương mại hoặc tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố, luôn kèm ngày áp dụng. Mức quy đổi thường cao hơn giá cà phê nhân bán tại vườn, vì giá xuất khẩu bình quân gộp cả cà phê chế biến có giá cao hơn và đã gồm chi phí sơ chế, vận chuyển, các khoản phí và phần lời của khâu thu mua. Ảnh hưởng của tỷ giá lên giá trong nước được giải thích ở trang tỷ giá và cách hình thành giá cà phê.
Vai trò của cà phê trong nền kinh tế
Cà phê là một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam: năm 2025, mặt hàng này nằm trong ba nhóm hàng nông lâm thủy sản vượt 8 tỷ USD, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vai trò ấy thể hiện ở hai mặt: nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế và sinh kế của người trồng, người buôn, người xuất khẩu.

Đóng góp vào kim ngạch nông sản
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 cà phê chiếm khoảng 12,2% kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam. Tỷ lệ này tính bằng 8,57 tỷ USD của cà phê chia cho tổng 70,09 tỷ USD của toàn ngành, cả hai đều là số ước tính cuối năm của Bộ.
| Nhóm hàng | Kim ngạch 2025 | Nguồn |
|---|---|---|
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 17,3 tỷ USD | Bộ Nông nghiệp và Môi trường (ước tính) |
| Cà phê | 8,57 tỷ USD | Bộ Nông nghiệp và Môi trường (ước tính) |
| Rau quả | 8,56 tỷ USD | Bộ Nông nghiệp và Môi trường (ước tính) |
Toàn ngành nông lâm thủy sản xuất siêu khoảng 20,7 tỷ USD năm 2025, theo Báo Chính phủ. Trong 9 tháng năm 2026, cà phê đạt 6,54 tỷ USD trên tổng khoảng 56,3 tỷ USD của ngành, tương đương khoảng 11,6%. Tỷ lệ giảm vì kim ngạch cà phê đi xuống trong khi kim ngạch toàn ngành vẫn tăng 7,8%.
Sinh kế của nông hộ, đại lý, doanh nghiệp
Xuất khẩu cà phê nuôi sống ba nhóm chính: nông hộ trồng cà phê ở Tây Nguyên, đại lý thu mua, và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Mỗi nhóm hưởng lợi khi giá và lượng tăng, nhưng chịu rủi ro khác nhau khi giá đi xuống.
- Nông hộ: theo Bộ Công Thương, sản xuất cà phê dựa vào hàng trăm nghìn nông hộ nhỏ, trên diện tích khoảng 730.000 ha. Khi giá giảm, thu nhập của họ giảm theo: giữa tháng 1/2026, cà phê nhân xô Tây Nguyên ở mức 97.000–97.800 đồng/kg, thấp hơn 18% so với cùng kỳ, theo Sở Công Thương Đồng Nai. Phân bố vùng trồng có ở trang vùng trồng cà phê Tây Nguyên.
- Đại lý thu mua: đại lý gom hàng từ nông hộ để bán cho doanh nghiệp, hưởng lợi khi lượng hàng qua tay tăng và chịu rủi ro khi giá giảm lúc còn giữ hàng.
- Doanh nghiệp xuất khẩu: Simexco Daklak báo cáo kim ngạch xuất khẩu 639,3 triệu USD và doanh thu 18.189 tỷ đồng niên vụ 2024/2025. Khi giá thế giới giảm, doanh nghiệp phải bán nhiều hàng hơn để giữ kim ngạch, như diễn biến 9 tháng năm 2026.
Lợi thế cạnh tranh của cà phê Việt Nam
Cà phê Việt Nam cạnh tranh mạnh nhờ năng suất robusta cao, giống tốt, nguồn cung lớn và mạng lưới hiệp định thương mại tự do. Điểm yếu nằm ở giá trị gia tăng: phần lớn hàng vẫn bán dưới dạng cà phê nhân, giá neo theo sàn và ít thương hiệu riêng.

Năm lợi thế giữ vị trí số một robusta
Việt Nam giữ vị trí số một về robusta nhờ năm lợi thế: năng suất, giống cây, quy mô nguồn cung, hiệp định thương mại tự do và mạng lưới thị trường. Các lợi thế xếp theo mức quan trọng:
- Năng suất cao: năng suất bình quân của cà phê Việt Nam khoảng 3 tấn nhân/ha, cao hơn 3 lần bình quân thế giới và gần gấp đôi Brazil, theo TS Phan Việt Hà, phụ trách Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI). Mỗi hecta vì thế làm ra nhiều hàng để bán hơn.
- Giống cây: WASI có 20 giống cà phê được công nhận, gồm 14 giống robusta và 6 giống arabica. Giống TRS1 chiếm khoảng 85% diện tích robusta; các giống TRS1, TR4, TR9, TR11 đạt 4–5 tấn/ha khi vườn cho thu hoạch ổn định, có hộ đạt 7–8 tấn/ha.
- Quy mô nguồn cung: USDA FAS dự báo Việt Nam làm ra 31,4 triệu bao robusta niên vụ 2026/27, và gần 95% sản lượng cả nước là robusta. Nguồn hàng lớn, tập trung vào một loại giúp nhà rang xay mua được khối lượng lớn từ một nước.
- Hiệp định thương mại tự do: CPTPP có hiệu lực với Việt Nam từ 14/01/2019, EVFTA từ 01/8/2020, RCEP từ 01/01/2022. Theo Bộ Công Thương, 11 tháng năm 2025 cà phê dùng C/O mẫu EUR.1 của EVFTA đạt 1,3 tỷ USD; C/O là giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng thuế ưu đãi.
- Mạng lưới thị trường: cà phê Việt Nam có mặt ở 85 quốc gia, theo WASI, với EU là khách hàng lớn nhất. Ngoài EU, cà phê dùng C/O mẫu D của khu vực mậu dịch tự do ASEAN đạt hơn 830 triệu USD trong 11 tháng năm 2025, theo Bộ Công Thương.
Điểm yếu về giá trị xuất khẩu
Giá trị xuất khẩu chưa tương xứng với sản lượng, chủ yếu vì Việt Nam vẫn bán phần lớn dưới dạng cà phê nhân, giá bán theo giá sàn và ít có thương hiệu riêng. Bốn điểm yếu xếp theo mức quan trọng:
- Xuất khẩu thô chiếm phần lớn: USDA dự báo cà phê hạt chiếm 25,4 trong 28,95 triệu bao xuất khẩu niên vụ 2026/27. Tính từ số của VICOFA, cà phê chế biến năm 2025 bán được khoảng 9.760 USD/tấn, còn cà phê nhân niên vụ 2024/2025 khoảng 5.610 USD/tấn, chênh khoảng 4.150 USD mỗi tấn.
- Giá phụ thuộc giá sàn: khi giá thế giới giảm, kim ngạch giảm dù lượng tăng. Theo Bộ Công Thương, diện tích trồng gần như không thể mở rộng và năng suất đã gần mức trần, nên phần tăng giá trị phải đến từ chế biến sâu và thương hiệu, như Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Vũ Bá Phú nhận định.
- Thương hiệu quốc gia còn yếu: trong 10 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chế biến lớn nhất 5 tháng đầu niên vụ 2023/2024 theo VICOFA, Trung Nguyên là thương hiệu Việt duy nhất. Ông Lưu Vinh Quang, Phó Tổng giám đốc Tam Ba, nói với Tạp chí Công Thương: "Việc đi vào chế biến sâu là xu thế tất yếu, giúp nâng cao giá trị".
- Rủi ro bên ngoài tăng: thời tiết và các quy định mới như EUDR của EU đặt thêm điều kiện cho nguồn cung và thị trường.
Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất
Danh sách doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất dưới đây theo VICOFA, công bố ngày 12/3/2024, cho 5 tháng đầu niên vụ 2023/2024 (tháng 10/2023–2/2024), xếp theo lượng. Trong kỳ này cả nước xuất khẩu khoảng 764.802 tấn, hơn 2,36 tỷ USD; riêng Vĩnh Hiệp đạt 81.025 tấn, khoảng 10,6% tổng lượng.
- Vĩnh Hiệp
- Intimex Group
- Tuấn Lộc Commodities
- Simexco Daklak
- Louis Dreyfus Company Việt Nam
- Intimex Mỹ Phước
- Phúc Sinh
- NKG Việt Nam
- Olam Việt Nam
- Hoa Trang – Gia Lai
Ở mảng cà phê chế biến, niên vụ 2024/2025, 10 doanh nghiệp lớn nhất chiếm 85,3% thị phần xuất khẩu; Nestlé Việt Nam dẫn đầu với 22,5%, tiếp theo là Outspan Việt Nam 14,6% và Iguacu Việt Nam 9,4%, theo số liệu VICOFA được VCCI đăng lại ngày 24/3/2026. Đường đi của hạt cà phê trước khi đến các doanh nghiệp này được trình bày ở trang chuỗi thu mua cà phê từ nông dân đến nhà xuất khẩu.

Thị phần doanh nghiệp FDI
Theo VICOFA, số liệu tháng 2/2025 do VCCI đăng ngày 7/3/2025, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 28% kim ngạch và 27% lượng xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam. Ở mảng cà phê chế biến, tỷ trọng của khối này lên tới 86% kim ngạch.
| Mảng | Tháng 2/2025 (VICOFA, VCCI đăng 7/3/2025) | Niên vụ 2022/2023 (VICOFA, 12/3/2024) |
|---|---|---|
| Cà phê nhân | 28% kim ngạch, 27% lượng | Khoảng 33,1% kim ngạch |
| Cà phê chế biến | 86% kim ngạch | 71,7% kim ngạch |
Hai mảng chênh nhau vì các doanh nghiệp dẫn đầu mảng chế biến, như Nestlé, Outspan và Iguacu, đều thuộc khối FDI, theo VCCI. Tính ngược từ số tháng 2/2025, doanh nghiệp trong nước nắm khoảng 72% kim ngạch cà phê nhân nhưng chỉ khoảng 14% kim ngạch cà phê chế biến. Tỷ trọng này thay đổi theo từng kỳ, nên luôn cần đọc kèm kỳ số liệu.
Lịch sử xuất khẩu cà phê Việt Nam
Các mốc có nguồn cho thấy kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng từ khoảng 5,4 tỷ USD ở niên vụ 2023/2024 lên hơn 8,9 tỷ USD năm 2025. Giai đoạn này diễn ra sau khi ba hiệp định thương mại tự do lớn lần lượt có hiệu lực từ năm 2019 đến năm 2022.
| Mốc | Sự kiện hoặc kim ngạch | Nguồn |
|---|---|---|
| 14/01/2019 | CPTPP có hiệu lực với Việt Nam | Bộ Công Thương |
| 01/8/2020 | EVFTA có hiệu lực | Bộ Công Thương |
| 01/01/2022 | RCEP có hiệu lực | Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) |
| Niên vụ 2023/2024 | Kim ngạch khoảng 5,4 tỷ USD | VICOFA |
| Năm 2024 | Kim ngạch 5,62 tỷ USD | Bộ Công Thương |
| Niên vụ 2024/2025 | 8,4 tỷ USD, kỷ lục tính theo niên vụ | VICOFA |
| Năm 2025 | Hơn 8,9 tỷ USD và 1,59 triệu tấn, kỷ lục tính theo năm | Cục Hải quan |
| Vụ 2025-26 | 1.790.559 tấn, 8.422,7 triệu USD | Số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h |
| 9 tháng 2026 | 6,54 tỷ USD và 1,4 triệu tấn (ước tính) | Bộ Nông nghiệp và Môi trường |
Kim ngạch năm 2025 tăng gần 59% so với năm 2024, mức tăng lớn nhất trong các mốc trên. Vụ 2025-26 có lượng cao nhất trong bảng, nhưng kim ngạch thấp hơn năm 2025 vì giá bình quân giảm.
Thời tiết, EUDR và giá sàn tác động
Ba yếu tố tác động mạnh nhất đến xuất khẩu cà phê Việt Nam là thời tiết, quyết định nguồn cung; quy định chống phá rừng của EU (EUDR), quyết định điều kiện vào thị trường EU; và giá sàn London, quyết định giá bán. Mỗi yếu tố tác động qua một kênh riêng:
- Thời tiết, qua lượng: theo Bộ Công Thương ngày 10/10/2025, khô hạn và nắng nóng kéo dài từng làm giảm sản lượng arabica ở Nam Mỹ và đẩy giá thế giới lên. Mối liên hệ này được phân tích ở trang thời tiết và sản lượng cà phê.
- EUDR, qua điều kiện thị trường: theo trang của Ủy ban châu Âu truy cập ngày 10/10/2026, Quy định (EU) 2023/1115 áp dụng với cà phê từ 30/12/2026 cho doanh nghiệp lớn và vừa, từ 30/6/2027 cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; cà phê hòa tan vào phạm vi từ 30/12/2027. Yêu cầu cụ thể nằm ở trang quy định chống phá rừng EUDR.
- Giá sàn, qua giá: USDA FAS dự báo niên vụ 2026/27 thế giới làm ra 189,7 triệu bao, nhiều hơn mức tiêu thụ 179,7 triệu bao khoảng 10 triệu bao, điều có thể gây sức ép lên giá. Cơ chế này được giải thích ở trang giá cà phê được hình thành như thế nào.
Khoảng cách với Brazil sẽ thay đổi?
Theo dự báo của USDA FAS công bố ngày 22/7/2026, khoảng cách giữa Brazil và Việt Nam về xuất khẩu cà phê hạt nới rộng từ 8,9 triệu bao niên vụ 2025/26 lên 19,6 triệu bao niên vụ 2026/27. Các dự báo hiện có cho thấy Brazil vẫn giữ vị trí số một trong niên vụ tới.
| Tổ chức | Dự báo | Ngày công bố |
|---|---|---|
| USDA FAS | Niên vụ 2026/27: Brazil xuất khẩu 45,0 triệu bao cà phê hạt, Việt Nam 25,4 triệu bao; tổng xuất khẩu mọi dạng lần lượt 49,07 và 28,95 triệu bao | 22/7/2026 |
| VICOFA (ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch) | Sản lượng niên vụ 2025/26 của Việt Nam có thể tăng khoảng 10% | Tháng 10/2025 |
| VICOFA (ông Thái Như Hiệp, Phó Chủ tịch) | Kim ngạch năm 2026 vẫn trên 8 tỷ USD; mốc 10 tỷ USD khó đạt | Sở Công Thương Đồng Nai đăng 15/1/2026 |
Theo USDA, khoảng cách nới rộng chủ yếu vì sản lượng Brazil dự kiến tăng 8,9 triệu bao, trong khi Việt Nam chỉ tăng 0,8 triệu bao. Brazil cũng có 24,4 triệu bao canephora, nhóm cạnh tranh trực tiếp với robusta Việt Nam. Thời tiết ở hai nước và chính sách thuế của các nước nhập khẩu có thể làm các dự báo này thay đổi.
Xuất khẩu cà phê hạt của Brazil và Việt Nam
■Brazil ■Việt Nam
Xem số liệu
| Đơn vị: triệu bao 60 kg | Brazil | Việt Nam |
|---|---|---|
| Niên vụ 2025/26 | 34 | 25,1 |
| Niên vụ 2026/27 (dự báo) | 45 | 25,4 |
Việt Nam giữ vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê và thứ nhất về robusta, với kỷ lục hơn 8,9 tỷ USD năm 2025 và 1.790.559 tấn trong vụ 2025-26. Diễn biến tiếp theo được theo dõi qua số liệu xuất khẩu cà phê hằng tháng, các nước nhập khẩu cà phê Việt Nam và giá robusta London hôm nay.
