Sản lượng cà phê được tính bằng bao 60 kg cà phê nhân hoặc bằng tấn, theo từng niên vụ, tức mùa thu hoạch chính của mỗi nước. Gần như toàn bộ đến từ hai loài: Robusta và Arabica chiếm khoảng 99% sản lượng cà phê nhân thế giới. Robusta (Coffea canephora, ở Brazil gọi là conilon) ưa nóng. Arabica (Coffea arabica) ưa mát.
Thời tiết quyết định sản lượng cà phê qua 4 cơ chế chính
Thời tiết tác động lên sản lượng cà phê qua bốn đường: nhiệt độ vượt ngưỡng chịu đựng của cây, lượng mưa và thời điểm mưa, hiện tượng cực đoan, và sâu bệnh. Hạn, bão hay sương giá gây hại nhanh nhất, chỉ trong một mùa. Nhiệt độ, mưa và sâu bệnh tác động âm thầm, tích dần qua cả năm.
Theo tổng quan của DaMatta và Ramalho đăng trên Brazilian Journal of Plant Physiology năm 2006, hạn hán và nhiệt độ bất lợi là hai giới hạn khí hậu chính của cây cà phê. Mạnh nhất là hạn hán và sương giá.
Nhiệt độ và ngưỡng chịu đựng của Robusta, Arabica
Robusta ưa nóng và chịu lạnh kém. Arabica ngược lại, ưa mát và chịu nóng kém, nên cùng một mức nhiệt có thể có lợi cho loài này nhưng hại loài kia. Khoảng nhiệt tốt nhất của Arabica là 18–21°C, còn với Robusta, các nguồn đưa ra những mức rất khác nhau.
| Tiêu chí | Robusta | Arabica |
|---|---|---|
| Nhiệt độ trung bình năm tối ưu | 22–26°C (Matiello, 1998) hoặc 24–30°C (Willson, 1999); dưới 20,5°C theo năng suất thực tế của 798 trang trại Đông Nam Á (Kath và cộng sự, 2020) | 18–21°C |
| Ngưỡng nóng | Giữ quang hợp cao tới 34–35°C nếu khí khổng không bị hạn chế; năng suất giảm khoảng 14% cho mỗi 1°C vượt mức tối ưu (Kath và cộng sự) | Trên 23°C, quả lớn và chín nhanh hơn, chất lượng thường giảm; tiếp xúc liên tục với 30°C có thể làm cây chậm lớn, vàng lá |
| Ngưỡng lạnh | Lá và quả không chịu được nhiệt độ dưới 5–6°C, hoặc 15°C kéo dài | Dưới 17–18°C, cây tăng trưởng kém hẳn |
| Vùng trồng tiêu biểu | Việt Nam; bang Espírito Santo và Rondônia của Brazil | Bang Minas Gerais và São Paulo của Brazil |
Nguồn: tổng quan của DaMatta và Ramalho, trừ các ý ghi tên Kath và cộng sự. Vùng trồng tiêu biểu theo số liệu sản lượng của USDA FAS và Conab.
Với Robusta, hai cách đo cho hai kết quả khác nhau. Mức 22–26°C và 24–30°C đến từ tài liệu nông học mà DaMatta và Ramalho trích. Nhóm của Kath, đăng trên tạp chí Global Change Biology năm 2020, dùng năng suất thực tế 10 năm của các trang trại nên ra mức thấp hơn nhiều.
Arabica cũng nhạy với nắng nóng. Theo NOAA Climate.gov, cây chịu được nhiệt độ trung bình năm tới khoảng 24°C. Nếu phải chịu 30°C trở lên liên tục, cây có thể chậm lớn, vàng lá, thậm chí u thân. Ở chiều lạnh, thiệt hại nặng nhất đến từ sương giá.
Lượng mưa và thời điểm mưa
Với cây cà phê, mưa đúng lúc quan trọng hơn tổng lượng mưa cả năm. Theo DaMatta và Ramalho, Arabica cần khoảng 1.200–1.800 mm mưa mỗi năm. Robusta cần mức tương tự nhưng chịu mưa nhiều trên 2.000 mm tốt hơn. Cùng một lượng mưa, vườn có thể được mùa hay mất mùa tùy mưa rơi vào tháng nào.
- Mưa đúng lúc: nước đến sau mùa khô giúp hoa nở đồng loạt.
- Mưa sai lúc: mưa nhiều quanh năm thường làm vụ thu hoạch rải rác và năng suất thấp.
- Thiếu mưa: ở vùng trồng ven biên, tức nơi khí hậu chỉ vừa đủ cho cây, vườn không tưới có thể giảm tới 80% năng suất trong những năm rất khô.
Hiện tượng cực đoan: hạn, lũ, bão và sương giá
Hạn, bão kèm mưa lớn và sương giá có thể cắt sản lượng chỉ trong một mùa. Riêng sương giá có thể làm chết cả cây. Mỗi hiện tượng đánh vào một giai đoạn và một bộ phận khác nhau của cây.
- Hạn: hại mạnh nhất quanh lúc ra hoa, vì nắng nóng cùng mùa khô kéo dài có thể làm hoa rụng. Hạn nặng còn hại cả cây. Theo FAO, hạn cuối năm 1999 đã làm hại cây cà phê ở Brazil.
- Bão và mưa lớn kéo dài: làm sản lượng giảm ngay trong niên vụ đang tới, như bão Mitch năm 1998 ở Guatemala và Mexico.
- Sương giá: băng hình thành trong mô làm chết lá, có khi chết cả cây, nên thiệt hại kéo sang các vụ sau.
Sâu bệnh bùng phát theo thời tiết
Nhiệt độ tăng và mưa bất thường có thể làm sâu bệnh bùng phát, kéo sản lượng xuống dù vườn không gặp đợt thời tiết cực đoan nào rõ rệt.
Theo NOAA Climate.gov, bệnh gỉ sắt ở Trung Mỹ là ví dụ rõ nhất. Thập niên 1970 và 1980, bệnh chỉ xuất hiện ở vùng thấp, ấm hơn. Đợt bắt đầu từ năm 2011 lan lên cả vùng cao, ảnh hưởng hơn một nửa diện tích cà phê của khu vực và làm mất khoảng 350.000 việc làm. Cơ quan này gắn đợt bệnh với nhiệt độ tăng và mưa cực đoan.
Mọt đục quả (Hypothenemus hampei), loài côn trùng đục vào quả cà phê, sinh sôi mạnh khi khí hậu ấm lên. Một nghiên cứu năm 2011 cho thấy mọt có ở mọi vùng trồng cà phê trừ Trung Quốc và Nepal, gây thiệt hại hơn 500 triệu USD mỗi năm. Theo dự báo mà NOAA Climate.gov nêu, mỗi khi nhiệt độ tăng 1–2°C, mọt có thể sinh thêm lứa và gây hại nặng hơn.
Thời tiết ảnh hưởng đến cây cà phê như thế nào qua từng giai đoạn?
Mỗi giai đoạn của cây cà phê cần một kiểu thời tiết riêng: một mùa khô để hình thành mầm hoa, nước để hoa nở, nhiệt độ ôn hòa để quả lớn và vào hạt. Thời tiết lệch ở giai đoạn nào, sản lượng hụt theo kiểu của giai đoạn đó, từ ít hoa, ít quả đến hạt kém.

Theo DaMatta và Ramalho, mầm hoa và quả Arabica lớn tốt nhất khi trời khoảng 23°C ban ngày, 17°C ban đêm. Nóng hơn khoảng tối ưu, quả chín nhanh hơn và chất lượng hạt giảm, theo NOAA Climate.gov. Lịch hái quả ở Việt Nam theo từng tháng nằm ở bài thời điểm thu hoạch cà phê ở Tây Nguyên.
Phân hóa mầm hoa và ra hoa: cần khô hạn rồi đủ nước
Cây cà phê cần một thời gian khô để phân hóa mầm hoa, tức chuyển mầm trên cành thành mầm hoa. Sau đó, cây cần một đợt nước đủ, từ mưa hoặc tưới, để hoa nở. Theo DaMatta và Ramalho, một mùa khô 2–4 tháng, trùng lúc cây nghỉ, kích thích cây ra hoa. Arabica chịu được nhiệt độ tới 30°C khi mầm hoa mới bắt đầu hình thành.
Rủi ro lớn nhất là nóng và khô cùng lúc. Nắng nóng khi ra hoa, nhất là trong mùa khô kéo dài, có thể làm hoa rụng.
Lạnh cũng gây hại. Theo Conab, trong vụ 2026, cà phê conilon ở Espírito Santo ra hoa không đều do nhiệt độ thấp. Sản lượng conilon của bang năm đó giảm 14,3%, còn 12,1 triệu bao.
Vì sao thời tiết năm nay quyết định sản lượng vụ sau?
Hoa của vụ sau hình thành và nở ngay trong mùa đang diễn ra, nhiều tháng trước khi quả chín. Vì vậy, thời tiết năm nay quyết định phần lớn sản lượng vụ sau. Thời tiết có thể làm lệch bất kỳ bước nào, từ mùa khô đến lúc thu hoạch.

Vụ 2026 ở Brazil cho thấy đủ cả chuỗi. Theo Conab, ở Minas Gerais, mưa đều trước khi ra hoa và thời tiết thuận đến tháng 3 giúp quả vào hạt tốt, cộng thêm năm cao của chu kỳ hai năm. Khi Conab công bố ước tính lần 3 ngày 24/09/2026, thu hoạch đã xong 99%. Nghĩa là thời tiết đã định phần lớn sản lượng vụ này từ trước khi bắt đầu hái.
Tin hạn trong mùa khô hay mưa lúc ra hoa vì thế nói về vụ thu hoạch kế tiếp, không phải lượng hàng đang bán. Thị trường cũng tính theo nhịp này. Giá kỳ hạn, tức giá thỏa thuận hôm nay cho lô hàng giao sau, bắt đầu phản ánh rủi ro của một vụ từ khoảng một năm trước khi hái.
Chu kỳ được mùa mất mùa của cây cà phê
Cây cà phê có nhịp được mùa, mất mùa: sản lượng cao, thấp xen kẽ qua từng năm, rõ nhất ở Arabica của Brazil. Theo farmdoc daily của Đại học Illinois, cà phê Brazil theo chu kỳ hai năm, năm lẻ thường là năm thấp. Robusta của Brazil không đi cùng nhịp đó.

Chu kỳ hai năm của cây cà phê hình thành ra sao?
Số liệu của Conab cho thấy rõ năm thấp và năm cao của Arabica Brazil nối tiếp nhau. Conab gọi hai pha này là "bienalidade negativa", tức năm thấp của chu kỳ, và "bienalidade positiva", tức năm cao. Từ năm thấp 2025 sang năm cao 2026, sản lượng Arabica tăng hơn một phần ba.
| Vụ | Vị trí trong chu kỳ theo Conab | Sản lượng Arabica Brazil (triệu bao 60 kg) | So với vụ trước |
|---|---|---|---|
| 2025 | Năm thấp | 35,76 | Giảm 9,7% |
| 2026 | Năm cao | 48,2 | Tăng 34,8% |
Nguồn: Conab, ước tính lần 4 tháng 12/2025 cho vụ 2025 và ước tính lần 3 ngày 24/09/2026 cho vụ 2026.
Năm 2025 là năm lẻ, đúng nhịp mà farmdoc daily mô tả. Sản lượng giảm chủ yếu vì năng suất. Năng suất Arabica giảm 8,4%, còn 24,1 bao/ha. Diện tích chỉ giảm 1,5%, còn 1,49 triệu ha.
Năm 2026, Arabica chiếm khoảng 70% sản lượng cà phê Brazil. Robusta ít theo nhịp chu kỳ hơn. Cùng năm, khi Arabica tăng mạnh, conilon của Brazil lại giảm 6,6%, còn 19,4 triệu bao. Diện tích conilon khi đó vẫn tăng 4%, lên 386,6 nghìn ha.
Thời tiết làm chu kỳ được mùa mất mùa nặng thêm hay lu mờ đi?
Thời tiết có thể làm chu kỳ nặng thêm hoặc lu mờ đi, vì sản lượng mỗi vụ là kết quả của cả nhịp sinh trưởng lẫn thời tiết trong mùa. Hai vụ ở Brazil cho thấy thời tiết khuếch đại chu kỳ theo cả hai chiều.
Ở chiều đi lên, vụ 2026 là năm cao, lại gặp thời tiết thuận và diện tích kinh doanh tăng khoảng 5%, lên 1,95 triệu ha. Theo Conab, tổng sản lượng cà phê Brazil đạt 67,6 triệu bao 60 kg, tăng gần 20%, cao nhất trong số liệu Conab từng công bố. Năng suất bình quân tăng gần 14%. Mỗi hecta cho 34,6 bao, thay vì 30,4 bao như năm trước.
Ở chiều đi xuống, theo FAO, hạn cuối năm 1999 làm hại cây cà phê Brazil đúng vào niên vụ 1999/2000, vốn là năm thấp của chu kỳ. Vụ này được dự báo giảm khoảng 23%.
Thời tiết cũng có thể làm chu kỳ lu mờ. Năm thấp mà gặp thời tiết thuận thì mức giảm nhỏ đi. Năm cao mà gặp hạn hay sương giá thì phần tăng của chu kỳ có thể mất hết.
Vì vậy, muốn biết một đợt thời tiết gây hại bao nhiêu, trước hết cần biết vụ tới là năm cao hay năm thấp. Mọi con số cho vụ chưa thu hoạch đều chỉ là dự báo.
Nguồn cung cà phê toàn cầu phụ thuộc vào thời tiết đến mức nào?
Hơn một nửa sản lượng cà phê thế giới dự báo cho niên vụ 2026/27 đến từ hai nước, Brazil và Việt Nam, nên nguồn cung toàn cầu rất nhạy với thời tiết. Mức nhạy này đến từ ba điều: sản lượng tập trung, El Niño và La Niña tác động lên nhiều vùng trồng cùng lúc, và giá kỳ hạn phản ứng ngay với tin thời tiết.
Sản lượng tập trung ở vài nước trong cùng vành đai khí hậu
Vài nước sản xuất lớn chiếm phần lớn sản lượng cà phê thế giới, nên thời tiết xấu ở một nước đủ làm lệch cán cân cung cầu toàn cầu. Theo báo cáo Coffee: World Markets and Trade tháng 6/2026 của USDA FAS, thế giới dự kiến làm ra kỷ lục 189,667 triệu bao 60 kg trong niên vụ 2026/27. Brazil chiếm 71,9 triệu bao, Việt Nam 32,5 triệu bao.
Hai nước cộng lại được 104,4 triệu bao, khoảng 55% sản lượng thế giới. Riêng Brazil chiếm khoảng 38%, nằm trong mức 30–40% mà farmdoc daily nêu.
Mỗi nước gắn với một loài. Arabica chiếm khoảng hai phần ba sản lượng dự báo của Brazil, với 47,5 triệu bao. Robusta chiếm khoảng 97% sản lượng dự báo của Việt Nam, với 31,4 triệu bao. Vì vậy, thời tiết Brazil tác động mạnh lên nguồn cung Arabica, còn thời tiết ở vùng trồng Việt Nam tác động mạnh lên nguồn cung Robusta.
Riêng hai nước đã làm ra hơn một nửa lượng cà phê thế giới dự kiến có trong niên vụ tới.
Sản lượng cà phê dự báo niên vụ 2026/27
Xem số liệu
| Đơn vị: triệu bao 60 kg | Giá trị |
|---|---|
| Thế giới | 189,7 |
| Brazil | 71,9 |
| Việt Nam | 32,5 |
Thứ hạng và sản lượng của từng nước nằm ở bài các nước sản xuất cà phê lớn, gồm cả phần so sánh sản lượng cà phê Việt Nam và Brazil.
El Niño và La Niña tác động lên các vùng trồng lớn ra sao?
El Niño và La Niña làm thay đổi mưa và nhiệt độ ở nhiều vùng trồng cà phê cùng lúc, nhưng mỗi vùng chịu một kiểu. Theo trang ENSO của NOAA Climate.gov, đây là pha nóng và pha lạnh của ENSO (El Niño – Dao động Nam), một dao động khí hậu tự nhiên ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương. Hai pha đổi chỗ cho nhau không đều, sau mỗi 2–7 năm.
Indonesia là ví dụ rõ nhất: El Niño thường làm nơi đây khô hơn, còn La Niña làm mưa tăng.
| Vùng trồng | Thường gặp khi có El Niño | Thường gặp khi có La Niña |
|---|---|---|
| Tây Nguyên (thuộc Đông Nam Á) | Đông Nam Á thường ấm hơn bình thường trong tháng 12–2 | – |
| Brazil | Nam Brazil thường ẩm hơn bình thường trong tháng 12–2; đông nam Brazil thường ấm hơn trong tháng 12–2 và tháng 6–8 | Từ nam Brazil đến trung Argentina thường khô hơn bình thường; bắc Brazil thường ẩm hơn trong mùa đông Bắc bán cầu |
| Indonesia | Thường khô hơn bình thường | Mưa tăng |
| Colombia và Trung Mỹ | Bắc Nam Mỹ và Trung Mỹ thường khô hơn bình thường trong tháng 12–2 | – |
Nguồn: trang tác động của El Niño và trang tác động của La Niña do Trung tâm Dự báo Khí hậu của NOAA (NOAA CPC) công bố. NOAA nói rõ đây là xu hướng thường gặp, không chắc chắn xảy ra.
El Niño đang diễn ra. Bản tin ENSO ngày 08/10/2026 của NOAA CPC đặt mức "El Niño Advisory", tức cảnh báo đang có El Niño, và viết: "El Niño continues to strengthen, with a strong-to-very strong El Niño likely through January-March 2027" (El Niño tiếp tục mạnh lên, nhiều khả năng ở mức mạnh đến rất mạnh đến hết tháng 1–3/2027).
Chỉ số Niño-3.4, tức độ chênh nhiệt độ mặt biển so với bình thường ở vùng giữa xích đạo Thái Bình Dương, đạt +2,1°C. NOAA CPC dự báo xác suất El Niño ở mức lịch sử trong tháng 10–12/2026 là 83%. Bản tin kế tiếp ra ngày 12/11/2026.
Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết trong bản cập nhật ngày 03/09/2026 rằng El Niño đã hình thành vững. Tổ chức này dự báo xác suất El Niño kéo dài qua tháng 12/2026–2/2027 là gần 100%. WMO cũng lưu ý El Niño mạnh không trực tiếp quyết định mức tác động ở từng vùng. Mọi kịch bản cho vùng trồng cà phê vì thế vẫn là dự báo.
Tin thời tiết đi vào giá sàn London và New York như thế nào?
Giá kỳ hạn ở London và New York phản ứng ngay từ lúc có dự báo thời tiết, trước khi thiệt hại xảy ra, vì người mua bán đang định giá lô hàng sẽ giao trong tương lai. Theo farmdoc daily, hợp đồng kỳ hạn Arabica giao dịch trên sàn ICE với mã KC. Giá thường tăng ngay từ bước đầu tiên, khi mới chỉ có dự báo.
- Dự báo thời tiết: cơ quan khí tượng cảnh báo khí lạnh, hạn hay mưa bất thường ở một vùng trồng lớn.
- Nhận định thiệt hại: thị trường ước lượng diện tích và giai đoạn cây có thể bị ảnh hưởng.
- Điều chỉnh dự báo sản lượng: các tổ chức như Conab, USDA FAS cập nhật số vụ ở kỳ báo cáo kế tiếp.
- Giá kỳ hạn phản ứng: giá thường đã tăng từ bước 1, rồi giữ mức hoặc quay đầu tùy thiệt hại thật ở bước 3.
Farmdoc daily gọi phần giá tăng thêm vì lo ngại này là phần bù rủi ro thời tiết (weather risk premium), tức khoản giá kỳ hạn cao hơn giá giao ngay dự kiến lúc giao hàng. Hợp đồng Arabica tháng 9 ứng với mùa thu hoạch ở Brazil. Một năm trước khi giao, phần bù của hợp đồng này bình quân là 13%.
Phần bù thu hẹp dần khi vụ thu hoạch đến gần, còn khoảng 8% vào tháng 2 và 3% vào tháng 5.
Phần bù rủi ro bình quân của hợp đồng Arabica tháng 9
Xem số liệu
| Đơn vị: % | Giá trị |
|---|---|
| Tháng 9 năm trước | 13 |
| Tháng 2 | 8 |
| Tháng 5 | 3 |
Giá cũng có thể quay đầu. Phần lớn các năm, giá hợp đồng tháng 9 giảm từ tháng 5 đến tháng 9 vì sương giá không xảy ra. Năm 2016 và 2021 là ngoại lệ. Hai năm đó, Brazil có cả sương giá lẫn hạn, và giá tăng suốt thời gian giao dịch của hợp đồng.
Cách thời tiết Brazil kéo giá theo từng mùa nằm ở bài thời tiết Brazil tác động lên giá Arabica.
Mưa và hạn tại vùng trồng Việt Nam ảnh hưởng đến sản lượng cà phê ra sao
Ở Tây Nguyên, độ dài mùa khô và lượng nước lúc ra hoa quyết định Robusta ra hoa nhiều hay ít. Hạn kéo dài có thể làm hụt sản lượng cả vụ. Diễn biến từng vụ nằm ở bài mưa và hạn tại vùng trồng Việt Nam. Biết niên vụ cà phê Việt Nam bắt đầu từ tháng 10 giúp xếp mỗi đợt mưa, hạn vào đúng vụ.
Thời tiết tại Brazil và giá cà phê thế giới
Brazil làm ra khoảng 30–40% lượng cà phê thế giới, nên mưa, hạn và sương giá ở Minas Gerais, São Paulo hay Paraná thường đi rất nhanh vào giá Arabica. Diễn biến từng mùa nằm ở bài thời tiết tại Brazil và giá cà phê thế giới.
Sương giá và các cú sốc nguồn cung cà phê
Sương giá, tiếng Anh là frost, từng gây những cú sốc nguồn cung cà phê lớn vì nó có thể hại cả cây chứ không chỉ quả. Theo DaMatta và Ramalho, hai đợt sương giá ở miền nam Brazil giữa thập niên 1990 làm giá cà phê quốc tế tăng gần gấp ba.

Sương giá ở Brazil là gì và vì sao đẩy giá cà phê tăng?
Sương giá là lúc nhiệt độ không khí xuống 0°C hoặc thấp hơn. Khi điều đó xảy ra ở vùng cà phê Brazil, giá tăng vì thị trường lo mất sản lượng của cả vụ sau. Theo tài liệu Frost Protection của FAO, nhiệt độ này đo ở độ cao 1,25–2,0 m, trong lều khí tượng chuẩn. Ở khí hậu cận nhiệt đới, nhiệt độ dưới 0°C có thể do các khối khí lạnh di chuyển chậm gây ra.
FAO chia sương giá thành hai kiểu. Sương giá bình lưu (advection frost) đến khi khí lạnh tràn vào thay khối khí ấm, kèm trời nhiều mây, gió vừa đến mạnh và độ ẩm thấp. Sương giá bức xạ (radiation frost) xảy ra khi trời quang, lặng gió. Khi đó có nghịch nhiệt, tức càng lên cao càng ấm, nên lớp không khí sát mặt đất lạnh nhất.
Còn sương giá đen (black frost) là khi nhiệt độ xuống dưới 0°C mà không có lớp băng nào trên bề mặt.
Lá cà phê chết khi nhiệt độ xuống khoảng −3°C đến −5°C, lúc băng hình thành trong mô lá, theo DaMatta và Ramalho. Giá phản ứng cả trước khi có ai xác nhận thiệt hại, vì giá kỳ hạn đã mang sẵn phần bù rủi ro thời tiết. Các ước tính thiệt hại đầu tiên sau một đợt sương giá chỉ là số tạm tính (sơ bộ).
Mùa sương giá ở Brazil rơi vào tháng mấy, vùng nào dễ bị nhất?
Mùa sương giá ở Brazil kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8, tức mùa đông của Nam bán cầu, theo farmdoc daily. Từ năm 2008 đến 2021, các đợt sương giá rơi vào ba bang Paraná, São Paulo và Minas Gerais. Paraná có tên trong các đợt cục bộ năm 2016 và 2019. Trong sáu đợt farmdoc daily liệt kê, chỉ đợt tháng 7/2021 bị xếp loại nặng.
- Tháng 7/2008: cục bộ, ảnh hưởng nhỏ đến sản lượng cả nước.
- Tháng 7/2013: chỉ ở diện hẹp.
- Tháng 6/2016: cục bộ, nhất là Paraná và một phần São Paulo.
- Tháng 6/2018: rải rác, không đáng kể.
- Tháng 7/2019: chủ yếu ở Paraná, ảnh hưởng tối thiểu đến Minas Gerais.
- Tháng 7/2021: nặng, ở Minas Gerais và São Paulo, xảy ra cuối tháng 7.
Đợt nặng nhất đánh vào hai bang làm ra nhiều Arabica nhất trong số liệu Conab công bố. Theo Conab, năm 2026, Minas Gerais làm ra 34,96 triệu bao Arabica, São Paulo 6,19 triệu bao. Hai bang cộng lại được 41,15 triệu bao, khoảng 85% Arabica của Brazil. Mùa hái quả của từng nước nằm ở bài lịch thu hoạch cà phê của các nước sản xuất lớn.
3 đợt sương giá lớn ở Brazil: 1975, 1994 và 2021
Ba đợt sương giá năm 1975, 1994 và 2021 cách nhau gần nửa thế kỷ, và mỗi đợt cho thấy một mặt của cú sốc nguồn cung: sản xuất, giá và diện tích bị hại.
FAO nhắc tới nghiên cứu năm 1983 của Hewitt về tác động của các đợt đóng băng lên sản xuất cà phê Brazil trong thập niên 1960 và 1970, giai đoạn có đợt năm 1975. Giữa thập niên 1990, hai đợt sương giá ở miền nam Brazil đẩy giá cà phê quốc tế lên gần gấp ba.
Đợt năm 2021 xảy ra ngày 20/7 ở Minas Gerais và São Paulo. Đây là đợt nặng nhất mà farmdoc daily liệt kê từ năm 2008. Theo số liệu sơ bộ của Conab, 150.000–200.000 ha Arabica có thể bị hại từ nhẹ đến nặng. Con số này bằng 8–11% trong tổng số 1.806.584 ha Arabica.
Cùng năm, Brazil còn chịu đợt hạn lớn từ tháng 6 đến tháng 9, thuộc loại nặng nhất nhiều thập kỷ. Theo farmdoc daily, hợp đồng Arabica kỳ hạn tháng 9/2021 dao động trong khoảng 1,12–1,90 USD/pound. Giá bình quân tháng 9/2021 là 1,87 USD/pound.
Điểm chung của ba đợt là thiệt hại không dừng ở vụ đang thu, vì sương giá làm hại chính cây cà phê.
Cú sốc nguồn cung cà phê là gì?
Cú sốc nguồn cung cà phê là khi một sự kiện bất ngờ làm lượng cà phê ra thị trường giảm mạnh so với dự kiến, khiến giá tăng nhanh. Khi nguồn cung hồi lại, giá đi theo chiều ngược lại.
Cuối thập niên 1990 cho thấy rõ chiều này. Theo FAO, sản lượng cà phê thế giới tăng từ bình quân 5.666 nghìn tấn giai đoạn 1994–1996 lên 6.308 nghìn tấn năm 1998. Riêng Brazil tăng từ 1.463 lên 2.073 nghìn tấn. Cùng lúc, chỉ số giá tổng hợp của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) giảm từ 134 US cent/pound năm 1997 xuống 86 năm 1999.
Chỉ số giá lên đỉnh năm 1997 rồi giảm liền hai năm.
Chỉ số giá tổng hợp của ICO cuối thập niên 1990
Xem số liệu
| Đơn vị: US cent/pound | Giá trị |
|---|---|
| BQ 1994–1996 | 125 |
| 1997 | 134 |
| 1998 | 109 |
| 1999 | 86 |
Tồn kho quyết định cú sốc nhẹ hay nặng. Theo farmdoc daily, năm 2015 và 2017, phần bù rủi ro trước thu hoạch rõ hơn, sau một thời gian giá cao và tồn kho thấp. Khi kho mỏng, thị trường nhạy hơn với mọi tin xấu về nguồn cung.
Những cú sốc nguồn cung cà phê lớn ngoài sương giá
Ngoài sương giá, các cú sốc nguồn cung cà phê lớn còn đến từ hạn hán, bão kèm mưa lớn và dịch bệnh như gỉ sắt. Nặng nhất trong niên vụ 1998/99 là hạn ở Côte d'Ivoire, làm mất một phần tư sản lượng.
| Sự kiện | Nước hoặc vùng | Niên vụ | Tác động lên nguồn cung |
|---|---|---|---|
| Hạn | Côte d'Ivoire | 1998/99 | Sản lượng giảm 25% |
| Bão Mitch (1998) | Guatemala | 1998/99 so với 1997/98 | Sản lượng giảm 19% |
| Bão Mitch (1998) | Mexico | 1998/99 so với 1997/98 | Sản lượng giảm 14% |
| Hạn | Việt Nam | 1998/99 | Sản lượng giảm 10% |
| Mưa quá nhiều | Colombia | 1998/99 | Sản lượng giảm 6% |
| Gỉ sắt | Trung Mỹ | Từ năm 2011 | Hơn một nửa diện tích cà phê bị ảnh hưởng, mất khoảng 350.000 việc làm |
Nguồn: FAO, Commodity Market Review 1999–2000 cho các dòng hạn, bão và mưa. NOAA Climate.gov cho dòng gỉ sắt.
Mức giảm do hạn ở Côte d'Ivoire gấp hơn bốn lần mức giảm do mưa ở Colombia.
Mức giảm sản lượng cà phê niên vụ 1998/99 do hạn, bão và mưa lớn
Xem số liệu
| Đơn vị: % | Giá trị |
|---|---|
| Côte d'Ivoire (hạn) | 25 |
| Guatemala (bão Mitch) | 19 |
| Mexico (bão Mitch) | 14 |
| Việt Nam (hạn) | 10 |
| Colombia (mưa lớn) | 6 |
Khác với sương giá, các cú sốc do hạn, bão hay mưa lớn trong bảng gói gọn trong một niên vụ. Gỉ sắt thì khác, vì dịch bệnh lan qua nhiều năm và lên cả vùng cao.
Sương muối là gì và khác sương giá thế nào?
Sương muối (hoar frost) là hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ, trắng như muối trên mặt đất, cây cỏ hay vật thể khác, theo Quyết định 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/04/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Sương giá là tên gọi chung rộng hơn, gồm cả sương giá đen không để lại lớp băng trắng nào.
| Tiêu chí | Sương muối | Sương giá |
|---|---|---|
| Căn cứ định nghĩa | Quyết định 18/2021/QĐ-TTg, Điều 5 khoản 19 | FAO, Frost Protection (2005) |
| Dấu hiệu nhìn thấy | Lớp hạt băng trắng đọng trên bề mặt | Có thể có băng trắng, hoặc không có băng nào (sương giá đen) |
| Tên tiếng Anh | Hoar frost | Frost; black frost cho dạng không có băng |
| Quan hệ giữa hai khái niệm | Một dạng sương giá có băng trắng đọng trên bề mặt | Tên gọi chung, gồm cả sương muối và sương giá đen |
Cũng theo quyết định này, rét hại là khi nhiệt độ không khí trung bình ngày xuống dưới 13°C. Sương muối và rét hại đều thuộc danh mục thiên tai phải dự báo, cảnh báo. Điều 53 quy định cấp độ rủi ro do rét hại cho vùng núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ. Tây Nguyên không có tên trong danh sách này.
Vì vậy, một bản tin sương muối ở Việt Nam không thể đánh đồng với đợt sương giá tháng 7/2021 ở Minas Gerais và São Paulo, đợt mà farmdoc daily xếp loại nặng.
Làm thế nào biết một đợt thời tiết xấu thật sự làm giảm sản lượng cà phê?
Một đợt thời tiết xấu chỉ thật sự làm giảm sản lượng khi hội đủ ba điều. Nó rơi đúng giai đoạn nhạy cảm của cây, phủ diện tích đủ lớn, và các ước tính chính thức sau đó xác nhận thiệt hại. Nhiều đợt khác chỉ đẩy giá kỳ hạn lên một thời gian rồi giảm lại.
- Xác định giai đoạn của cây: một đợt khí lạnh ở Brazil đáng lo khi rơi vào mùa sương giá. Hạn ở vùng Robusta gây hại nhiều nhất quanh lúc ra hoa.
- Đo diện tích bị hại: theo số liệu sơ bộ của Conab, sương giá tháng 7/2021 phủ 860.000 ha, gần một nửa diện tích Arabica. Nhưng diện tích có thể bị hại chỉ 150.000–200.000 ha, khoảng một phần mười.
- So mức độ với ngưỡng của cây: FAO đo nhiệt độ sương giá ở độ cao 1,25–2,0 m, còn lá cà phê chết quanh −3°C đến −5°C. Vì vậy, tin "nhiệt độ xuống 0°C" chưa có nghĩa là lá bị hại.
- Chờ các ước tính chính thức: Conab công bố nhiều lần ước tính mỗi vụ, lần 3 vào tháng 9 và lần 4 vào tháng 12. USDA FAS ra báo cáo cà phê thế giới hai lần mỗi năm, vào tháng 6 và tháng 12. Với đợt năm 2021, Conab nói rõ số liệu thiệt hại là sơ bộ và có thể thay đổi.
- So với số xuất khẩu các tháng sau: sau vụ 2026 được mùa, Brazil xuất khẩu 3,8 triệu bao cà phê trong tháng 8/2026, tăng hơn 40% so với cùng tháng năm trước. Theo số liệu của MDIC, đây là tháng 8 cao nhất từ trước tới nay. Cộng dồn 8 tháng đầu năm, Brazil xuất 24,6 triệu bao.
Giá dao động không có nghĩa là có thiệt hại thật. Theo farmdoc daily, khoảng 2/3 số năm, giá kỳ hạn Arabica nằm trong một vùng quanh giá lúc thu hoạch. Mép trên của vùng này cao hơn giá thu hoạch 11–26%, mép dưới thấp hơn 1–8%. Trong lịch sử, có năm giá kỳ hạn cao hơn giá thu hoạch tới 100%, có năm thấp hơn 40%.
Khi giá tăng mạnh rồi giảm nhanh trước mùa thu hoạch, thiệt hại thường nhỏ hơn mức lo ngại ban đầu.
Biến đổi khí hậu đang thay đổi rủi ro thời tiết của cây cà phê ra sao?
Các nghiên cứu dự báo biến đổi khí hậu làm rủi ro thời tiết của cây cà phê tăng theo ba hướng: nắng nóng vượt ngưỡng thường xuyên hơn, nhiệt độ trong mùa thất thường hơn, và đất trồng được thu hẹp hoặc dịch lên cao.
- Nóng vượt ngưỡng: theo nhóm Bunn, trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Climatic Change năm 2015, nhiệt độ cao hơn có thể làm giảm năng suất Arabica. Với Robusta, nhóm Kath ước mỗi 1°C vượt ngưỡng tối ưu làm năng suất giảm khoảng 14%.
- Nhiệt độ biến động: theo nhóm Bunn, Robusta có thể bị hại khi nhiệt độ trong mùa biến động mạnh hơn.
- Đất trồng thu hẹp và dịch lên cao: nhóm Bunn dự báo diện tích phù hợp trồng cà phê toàn cầu giảm khoảng một nửa ở mọi kịch bản phát thải được xét. Mức giảm mạnh nhất ở vùng gần xích đạo và vùng thấp.
Hai loài chịu tác động khác nhau. Theo DaMatta và Ramalho, Robusta được cho là có lợi thế khi khí hậu ấm lên vì chịu nóng tốt. Dữ liệu trang trại của nhóm Kath lại cho thấy Robusta nhạy với nhiệt hơn mức thường nghĩ.
Với Arabica, nghiên cứu của Ovalle-Rivera và cộng sự trên PLOS ONE năm 2015 dùng 21 mô hình khí hậu cho thập niên 2050. Nhóm tác giả kết luận: "Overall, the impact of climate change in all producing countries is predicted to be negative" (nhìn chung, tác động của biến đổi khí hậu ở mọi nước sản xuất được dự báo là tiêu cực).
Theo cùng nghiên cứu, Mexico, Ấn Độ và Honduras là ba nước giảm mạnh nhất trong bảy nước dưới đây. Vùng trồng ở Ethiopia và Kenya là ngoại lệ, được dự báo phù hợp hơn.
Mức giảm độ phù hợp trồng Arabica dự báo cho thập niên 2050
Xem số liệu
| Đơn vị: điểm độ phù hợp | Giá trị |
|---|---|
| Mexico | 0,29 |
| Ấn Độ | 0,28 |
| Honduras | 0,27 |
| Brazil | 0,25 |
| Việt Nam | 0,25 |
| Costa Rica | 0,2 |
| Guatemala | 0,19 |
Với Việt Nam, độ phù hợp trồng Arabica được dự báo giảm 0,25, ngang Brazil. Nghiên cứu này chỉ xét Arabica, trong khi Robusta chiếm khoảng 97% sản lượng dự báo của Việt Nam niên vụ 2026/27, theo USDA FAS. Ở Ấn Độ và Đông Dương, dải độ cao trồng được dự báo dịch từ 400–1.500 m lên 700–1.800 m. Ở Brazil, dải này dịch từ cùng mức 400–1.500 m lên 800–1.600 m.
Nhóm Bunn cũng xếp Brazil và Việt Nam vào nhóm có thể mất đáng kể diện tích phù hợp. Ở Brazil, NOAA Climate.gov nêu dự báo của báo cáo IPCC AR5 năm 2014. Đến năm 2050, đất trồng được cà phê ở Minas Gerais và São Paulo có thể giảm từ 70–75% xuống 20–25% tổng diện tích đất. Santa Catarina và Rio Grande do Sul có thêm đất trồng được, nhưng chỉ bù được một phần.
4 tín hiệu thời tiết cần theo dõi ở mỗi mùa vụ cà phê
Mỗi mùa vụ cà phê có bốn tín hiệu thời tiết đáng theo dõi: El Niño hay La Niña, mưa và hạn mùa khô ở Tây Nguyên, khí lạnh ở Brazil từ tháng 5 đến tháng 8, và mưa trước khi Arabica ra hoa ở Brazil. El Niño và La Niña là tín hiệu rộng nhất, vì cùng lúc tác động lên nhiều vùng trồng.
- Trạng thái El Niño, La Niña: NOAA CPC ra bản tin ENSO mỗi tháng, gần nhất là các bản ngày 10/09/2026 và 08/10/2026, bản kế tiếp ngày 12/11/2026. WMO ra bản cập nhật định kỳ. Tín hiệu này tác động cùng lúc lên nhiều vùng trồng.
- Mưa và hạn mùa khô ở Tây Nguyên: theo dõi độ dài mùa khô và lượng nước lúc ra hoa qua bản tin của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia. Tín hiệu này tác động lên số hoa của vụ kế tiếp. Tình hình từng mùa nằm ở bài diễn biến mưa hạn ở Tây Nguyên.
- Khí lạnh và sương giá ở Brazil: trong mùa sương giá, theo dõi các đợt khí lạnh ở Minas Gerais, São Paulo và Paraná, rồi so với ước tính của Conab tháng 9 và tháng 12. Thời tiết từng đợt nằm ở bài thời tiết Brazil mùa này.
- Mưa trước khi Arabica ra hoa ở Brazil: Conab nêu yếu tố này khi giải thích năng suất vụ 2026 ở Minas Gerais. Kết quả của tín hiệu này hiện ra trong các ước tính của Conab và báo cáo tháng 6, tháng 12 của USDA FAS.
Mốc gần nhất cần theo dõi là bản tin ENSO ngày 12/11/2026 của NOAA CPC, khi El Niño được dự báo ở mức mạnh đến rất mạnh. Sau đó là báo cáo tháng 12 của USDA FAS và ước tính lần 4 của Conab cho vụ Brazil.
Cách đọc số liệu: số sản lượng Brazil của Conab là ước tính theo từng lần công bố, lần 3 vào tháng 9 và lần 4 vào tháng 12, nên còn có thể thay đổi. Số của USDA FAS cho niên vụ 2026/27 là dự báo công bố tháng 6/2026. Các con số về đất trồng được đến thập niên 2050 là kết quả mô hình, tức là dự báo.
