Khi hỏi vùng trồng cà phê Tây Nguyên ở đâu, cần hiểu "Tây Nguyên" trong bài là vùng sinh thái trồng cà phê, không còn là đơn vị hành chính. Theo Nghị quyết 202/2025/QH15, các tỉnh mới mang tên Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng đều nhập thêm tỉnh duyên hải. Vùng có khí hậu hai mùa mưa, khô. Cà phê vối chiếm phần lớn diện tích, còn cà phê chè (Arabica) được trồng ở vùng cao mát như Cầu Đất, Đà Lạt.

Vùng trồng cà phê Tây Nguyên nằm ở đâu?

Vùng cà phê này nằm trên dải cao nguyên phía tây miền Trung, rộng khoảng 51.800 km² và gồm năm cao nguyên đất bazan tương đối bằng phẳng. Số liệu này nằm trong Hồ sơ cà phê quốc gia Việt Nam do Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) đăng năm 2019. Vùng thuộc địa bàn năm tỉnh cũ, nay nằm trong bốn tỉnh mới Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Cành cà phê trĩu quả xanh và chín đỏ trong một vườn cà phê
Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh / Pexels (Pexels License)

Quốc hội thông qua Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày 12/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9. Chính quyền các tỉnh mới chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025. Bốn tỉnh mới có tổng diện tích tự nhiên 78.738,55 km², trong khi cao nguyên Tây Nguyên rộng khoảng 51.800 km² theo VICOFA. Như vậy, cao nguyên chỉ bằng khoảng hai phần ba diện tích bốn tỉnh mới. Phần chênh lệch đến từ các tỉnh duyên hải nhập cùng như Bình Định, Phú Yên và Bình Thuận.

Vì thế, muốn biết một vùng trồng cụ thể nay thuộc tỉnh nào, người đọc cần đối chiếu tên tỉnh cũ với tỉnh mới.

Năm tỉnh cũ và ba tỉnh mới: bảng đối chiếu

Năm tỉnh cũ của Tây Nguyên nay thuộc ba tỉnh mới giữ tên tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, riêng Kon Tum cũ nhập vào Quảng Ngãi. Đề mục ghi ba tỉnh nhưng bảng có bốn tỉnh mới, vì Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải nhận phần Kon Tum cũ. Bảng xếp tỉnh cũ theo diện tích cà phê giảm dần, dựa trên số liệu năm 2017 của VICOFA.

Tỉnh cũ (trước 1/7/2025)Tỉnh mới (từ 1/7/2025)Tỉnh nhập cùngCăn cứ trong Nghị quyết 202/2025/QH15Diện tích cà phê tỉnh cũ năm 2017 (ước, VICOFA)
Đắk LắkĐắk LắkPhú YênĐiều 1, khoản 15190.000 ha
Lâm ĐồngLâm ĐồngĐắk Nông, Bình ThuậnĐiều 1, khoản 14162.000 ha
Đắk NôngLâm ĐồngLâm Đồng, Bình ThuậnĐiều 1, khoản 14135.000 ha
Gia LaiGia LaiBình ĐịnhĐiều 1, khoản 1282.500 ha
Kon TumQuảng NgãiQuảng NgãiĐiều 1, khoản 1113.500 ha

Mỗi tỉnh mới được lập từ toàn bộ diện tích và dân số của các tỉnh cũ ghép lại. Lâm Đồng mới rộng nhất, với 24.233,07 km² và 3.872.999 người; Quảng Ngãi mới rộng 14.832,55 km² với 2.161.755 người. Do đó, số liệu thống kê theo tỉnh mới gộp cả vùng duyên hải. Khi đọc một con số diện tích cà phê, người đọc nên xem nguồn tính theo ranh giới cũ hay mới.

Tiểu vùng trọng điểm và chỉ dẫn địa lý

Trong mỗi tỉnh, cà phê không trải đều mà dồn vào một số vùng nổi tiếng, rõ nhất là Buôn Ma Thuột ở Đắk Lắk. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu được nhà nước bảo hộ, cho biết sản phẩm đến từ một vùng cụ thể và có chất lượng gắn với nơi đó. Cục Sở hữu trí tuệ cấp đăng bạ chỉ dẫn địa lý "Buôn Ma Thuột" cho cà phê nhân Robusta theo Quyết định 896/QĐ-SHTT ngày 14/10/2005.

Theo Quyết định 31/2021/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk, có hiệu lực từ 11/11/2021, khu vực chỉ dẫn địa lý này gồm TP Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ và các huyện Buôn Đôn, Cư Kuin, Cư M'gar, Ea H'leo, Krông Ana, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắc. Đây là tên gọi trước ngày 1/7/2025. So với Quyết định 18/2010/QĐ-UBND trước đó, khu vực bảo hộ có thêm huyện Buôn Đôn.

Để dùng chỉ dẫn địa lý "Buôn Ma Thuột", quả cà phê phải được sản xuất trong khu vực bảo hộ, sơ chế và chế biến tại Đắk Lắk, và truy xuất được nguồn gốc. Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk quản lý và trao quyền sử dụng có thời hạn 5 năm, gia hạn được thêm 5 năm. Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột làm kiểm soát nội bộ.

Ở phía nam, chỉ dẫn địa lý "Lâm Đồng" được cấp cho cả cà phê Arabica và Robusta, ở ba dạng cà phê nhân, cà phê hạt rang và cà phê bột, theo Báo Nông nghiệp và Môi trường ngày 31/10/2025. Quyền quản lý thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng. Trong tỉnh, Cầu Đất và Đà Lạt là các vùng trồng Arabica, theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h. Nhìn chung, cà phê Việt Nam được trồng ở độ cao 500–1.200 m so với mực nước biển, theo VICOFA.

Vùng Tây Nguyên giữ vai trò gì với cà phê Việt Nam?

Tây Nguyên là vùng cà phê lớn nhất Việt Nam. Vùng giữ phần lớn diện tích và sản lượng cà phê cả nước, và là nguồn cung chính cho xuất khẩu cà phê Robusta. Vai trò ấy thể hiện qua ba chỉ số là diện tích, sản lượng và năng suất. Phần lớn đóng góp đến từ ba địa phương Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đắk Nông cũ.

Tỷ trọng diện tích và sản lượng so với cả nước

Theo số liệu của các địa phương do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, năm 2025 cà phê là cây công nghiệp lớn nhất của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Diện tích khoảng 676,5 nghìn ha, bằng 92,4% diện tích cà phê cả nước. Sản lượng ước 1,989 triệu tấn, bằng 98,7% sản lượng cả nước, với năng suất 3,07 tấn/ha. Số liệu này tính cho cả vùng theo cách gọi của Bộ.

Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, cả nước có khoảng 760.000 ha cà phê và hơn 90% nằm ở năm tỉnh Tây Nguyên cũ. Tổng này khác với mức suy ra từ tỷ lệ 92,4% của Bộ, vì hai nguồn thống kê ở thời điểm và phạm vi khác nhau. Ở mốc xa hơn, VICOFA ghi diện tích năm tỉnh Tây Nguyên cũ tăng từ 559.400 ha năm 2013 lên khoảng 583.000 ha năm 2017.

Chỉ sốTây Nguyên (theo phạm vi của nguồn)Cả nước / tỷ trọngNăm, nguồn
Diện tíchKhoảng 676,5 nghìn ha (vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên)92,4% diện tích cả nước2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Sản lượngƯớc 1,989 triệu tấn98,7% sản lượng cả nước2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Năng suất3,07 tấn/haKhoảng 2,3 tấn/ha (bình quân cả nước theo hồ sơ VICOFA đăng năm 2019, khác năm với số của Bộ)Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025); VICOFA (hồ sơ 2019)
Diện tíchHơn 90% diện tích cả nước nằm ở năm tỉnh cũKhoảng 760.000 haHỏa Tốc 24h tổng hợp

Sản lượng cà phê cả nước tăng đều qua từng năm trong giai đoạn 2013–2017, từ 1,381 triệu tấn lên 1,529 triệu tấn, theo VICOFA.

Sản lượng cà phê Việt Nam 2013–2017

nghìn tấn05001.0001.5002.0001.3811.4081.4531.4581.529201320142015201620172013 1.381 nghìn tấn2014 1.408 nghìn tấn2015 1.453 nghìn tấn2016 1.458 nghìn tấn2017 1.529 nghìn tấn
Xem số liệu
Đơn vị: nghìn tấnGiá trị
20131.381
20141.408
20151.453
20161.458
20171.529
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: VICOFA, 08/04/2019

Với phần lớn sản lượng cả nước, vùng là nguồn hàng chính của xuất khẩu cà phê Việt Nam. Theo VICOFA, ngành đặt mục tiêu giữ vị trí nước sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân thứ hai thế giới.

Ba địa phương dẫn đầu về diện tích

Theo bảng diện tích theo tỉnh của VICOFA giai đoạn 2013–2017, tính theo ranh giới tỉnh cũ, ba địa phương dẫn đầu là Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đắk Nông. Gia Lai đứng thứ tư và Kon Tum đứng thứ năm trong cả 5 năm.

  1. Đắk Lắk, nay là tỉnh Đắk Lắk mới: 199.900 ha năm 2013 và khoảng 190.000 ha năm 2017, theo VICOFA. Bảng số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk ghi 210.092 ha, 509.156 tấn năm 2020 và 214.421 ha, 588.094 tấn năm 2025. Chia sản lượng cho diện tích năm 2025, năng suất đạt khoảng 2,74 tấn/ha.
  2. Lâm Đồng cũ, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng mới: 151.500 ha năm 2013 và khoảng 162.000 ha năm 2017, theo VICOFA. Mức tăng 10.500 ha giữ tỉnh ở vị trí thứ hai trong cả giai đoạn.
  3. Đắk Nông cũ, nay thuộc Lâm Đồng: 116.900 ha năm 2013 và khoảng 135.000 ha năm 2017, theo VICOFA. Mức tăng 18.100 ha là lớn nhất trong năm tỉnh cùng giai đoạn.

Trong cả 5 năm, Đắk Lắk luôn có diện tích cà phê lớn nhất. Sau ngày 1/7/2025, Lâm Đồng cũ và Đắk Nông cũ cùng thuộc tỉnh Lâm Đồng mới.

Diện tích cà phê năm tỉnh Tây Nguyên cũ 2013–2017

ha0100.000200.000300.0002013201420152016 (ước)2017 (ước)2013 Đắk Lắk: 199.900 ha Lâm Đồng: 151.500 ha Đắk Nông: 116.900 ha Gia Lai: 77.700 ha Kon Tum: 13.400 ha2014 Đắk Lắk: 203.700 ha Lâm Đồng: 157.300 ha Đắk Nông: 118.800 ha Gia Lai: 79.100 ha Kon Tum: 14.100 ha2015 Đắk Lắk: 204.400 ha Lâm Đồng: 158.800 ha Đắk Nông: 119.500 ha Gia Lai: 79.700 ha Kon Tum: 15.300 ha2016 (ước) Đắk Lắk: 209.000 ha Lâm Đồng: 154.000 ha Đắk Nông: 126.000 ha Gia Lai: 80.000 ha Kon Tum: 14.000 ha2017 (ước) Đắk Lắk: 190.000 ha Lâm Đồng: 162.000 ha Đắk Nông: 135.000 ha Gia Lai: 82.500 ha Kon Tum: 13.500 ha

■Đắk Lắk ■Lâm Đồng ■Đắk Nông ■Gia Lai ■Kon Tum

Xem số liệu
Đơn vị: haĐắk LắkLâm ĐồngĐắk NôngGia LaiKon Tum
2013199.900151.500116.90077.70013.400
2014203.700157.300118.80079.10014.100
2015204.400158.800119.50079.70015.300
2016 (ước)209.000154.000126.00080.00014.000
2017 (ước)190.000162.000135.00082.50013.500
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: VICOFA, 08/04/2019

Diện tích cà phê theo từng tỉnh Tây Nguyên

Diện tích cà phê từng tỉnh thay đổi theo năm, như Đắk Lắk giảm còn Đắk Nông tăng trong giai đoạn 2016–2017 theo VICOFA. Vì vậy số liệu được cập nhật riêng theo mùa, theo cả tỉnh cũ và tỉnh mới, ở trang diện tích cà phê từng tỉnh Tây Nguyên.

Điều kiện tự nhiên nào làm nên vùng cà phê Tây Nguyên?

Đất đỏ bazan, độ cao của các cao nguyên và khí hậu hai mùa mưa, khô là ba điều kiện tự nhiên làm nên vùng cà phê Tây Nguyên. Đất tạo nền cho rễ cây phát triển. Độ cao và nhiệt độ quyết định giống cà phê trồng được. Nhịp mưa, khô chi phối lịch chăm sóc và nhu cầu nước tưới của vườn.

Quả cà phê chè Arabica chín đỏ trên cành ở vùng cao Lâm Đồng
Ảnh minh họa: 1500m Coffee / Pexels (Pexels License)

Cao nguyên đất đỏ bazan và độ cao

Theo VICOFA, Tây Nguyên gồm năm cao nguyên đất bazan tương đối bằng phẳng, và đất đỏ bazan là loại đất phù hợp với cây cà phê. Đất bazan hình thành từ đá bazan phong hóa, thường có màu đỏ nâu. Cùng hồ sơ ghi Tây Nguyên chiếm 16% đất canh tác và 22% đất rừng của cả nước.

Các thí nghiệm tưới cà phê ở Đắk Lắk của tác giả Trần Viết Ôn, đăng trên Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường năm 2013, làm trên đất feralit phát triển trên đá bazan. Đất feralit là nhóm đất đỏ vàng hình thành trong khí hậu nóng ẩm. Về độ cao, cà phê Việt Nam được trồng ở độ cao 500–1.200 m so với mực nước biển, theo VICOFA. Lên cao thì nhiệt độ giảm, nên các vùng cao mát hợp với Arabica hơn.

Khí hậu hai mùa và lý do Robusta chiếm ưu thế

Theo VICOFA, miền Nam Việt Nam có hai mùa mưa và khô, và niên vụ cà phê bắt đầu ngày 1/10, mốc kết thúc mùa mưa. Niên vụ là năm sản xuất cà phê, tính theo chu kỳ 12 tháng từ ngày 1/10. Lượng mưa năm ở Việt Nam dao động từ 1.200 mm đến 3.000 mm. Nhiệt độ có thể xuống 5°C vào tháng 12, tháng 1 và lên 37°C vào tháng 4, tháng 5.

Nhiệt độ giải thích phần lớn sự chênh lệch giữa hai giống. VICOFA ghi Robusta hợp với nhiệt độ 24–26°C, còn Arabica hợp với 20–22°C, lượng mưa 1.300–1.900 mm và vùng núi cao. Cùng hồ sơ ghi Tây Nguyên là vùng sản xuất Robusta lớn nhất về diện tích và năng suất. Đặc tính của giống này được trình bày ở trang đặc điểm cà phê Robusta.

Theo số liệu tổng hợp của Hỏa Tốc 24h, Robusta chiếm khoảng 684.000 ha, tức khoảng 90% trong khoảng 760.000 ha cà phê cả nước; Arabica khoảng 76.000 ha.

Tỷ trọng diện tích cà phê Việt Nam theo giống

%0255075100Robusta90 %Arabica10 %Robusta 90 %Arabica 10 %
Xem số liệu
Đơn vị: %Giá trị
Robusta90
Arabica10
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: Hỏa Tốc 24h tổng hợp, 10/10/2026

Lịch sử hình thành vùng cà phê Tây Nguyên

Vùng cà phê Tây Nguyên hình thành qua ba giai đoạn: du nhập từ năm 1857 đến khi giống Robusta lên cao nguyên năm 1908, mở rộng chậm đến giữa thập niên 1980, rồi tăng mạnh theo mô hình nông hộ sau Đổi mới năm 1986. Bảng dưới đặt các mốc chính trên một dòng thời gian, từ năm 1857 đến số liệu năm 2025.

MốcSự kiệnNguồn
1857Cà phê chè (Arabica) được các nhà truyền giáo người Pháp đưa vào Việt NamVICOFA
1908Người Pháp đưa Robusta, Excelsa rồi các giống khác từ Congo vào Tây NguyênVICOFA
Khoảng 100 năm sau khi du nhậpDiện tích cà phê Việt Nam mới đạt khoảng 30.000 haVICOFA
1986Cả nước có khoảng 50.000 ha, sản lượng 18.400 tấn; Đổi mới mở đường cho kinh tế hộVICOFA
Đầu những năm 1990Sản lượng cả nước dưới 2 triệu bao loại 60 kgVICOFA
2013Năm tỉnh Tây Nguyên cũ có 559.400 ha cà phêVICOFA
2025Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có khoảng 676,5 nghìn ha, bằng 92,4% cả nướcBộ Nông nghiệp và Môi trường

Từ cà phê chè năm 1857 đến Robusta năm 1908

Cà phê chè (Arabica) được các nhà truyền giáo người Pháp đưa vào Việt Nam năm 1857, theo VICOFA. Cà phê chè là tên tiếng Việt của Arabica, giống ưa khí hậu mát. Mốc này đánh dấu cây cà phê vào Việt Nam, chưa phải mốc cây cà phê lên Tây Nguyên.

VICOFA ghi Arabica được trồng thử đầu tiên ở các nhà thờ Công giáo tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sau đó cây lan đến Quảng Trị, Quảng Bình rồi lên Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Các tài liệu kể khác nhau về nơi trồng thử: một bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng năm 2023 nêu Hà Nam thay cho Ninh Bình và Hà Tĩnh.

Năm 1908, người Pháp đưa Robusta và Excelsa, sau đó là các giống khác từ Congo, vào Tây Nguyên. Cà phê vối là tên tiếng Việt của Robusta, giống chịu nóng và cho năng suất cao. Dù vậy, cây cà phê mở rộng chậm: sau 100 năm kể từ khi người Pháp đưa vào, diện tích cả nước mới đạt khoảng 30.000 ha, theo VICOFA.

Đổi mới 1986 và bước tăng diện tích

Theo VICOFA, diện tích cà phê tăng chậm trong thời chiến. Đến năm 1986, cả nước có khoảng 50.000 ha, sản lượng 18.400 tấn, tức hơn 300.000 bao loại 60 kg. Bao 60 kg là đơn vị đo quen dùng trong thương mại cà phê quốc tế. Sau cải cách Đổi mới năm 1986, Nhà nước đầu tư và khuyến khích hộ gia đình trồng cà phê. Đổi mới là chính sách chuyển sang kinh tế thị trường, cho hộ gia đình tự chủ sản xuất.

Kết quả hiện rõ qua số liệu. Đầu những năm 1990, sản lượng cả nước vẫn dưới 2 triệu bao 60 kg. Đến năm 2013, riêng năm tỉnh Tây Nguyên cũ đã có 559.400 ha, gấp hơn 11 lần diện tích của cả nước năm 1986. Tốc độ mở rộng ấy để lại hai hệ quả cho các mục sau: vườn cây già đi và nước tưới mùa khô chịu sức ép lớn.

Đồng bào dân tộc Tây Nguyên và cộng đồng trồng cà phê

Cộng đồng trồng cà phê Tây Nguyên, gồm đồng bào các dân tộc tại chỗ và các hộ đến lập nghiệp, phần lớn canh tác theo quy mô nông hộ nhỏ. Đồng bào dân tộc tại chỗ là các cộng đồng sinh sống lâu đời trên cao nguyên. Theo VICOFA, khoảng 95% sản lượng cà phê Việt Nam do các trang trại tư nhân làm ra, khu vực nhà nước chỉ quản lý khoảng 5%.

Cùng hồ sơ ghi hộ gia đình canh tác khoảng 85% diện tích cà phê, tương đương khoảng 480.000 ha. Trong phần diện tích này, 63% thuộc các vườn dưới 1 ha. Hơn 640.000 nông hộ nhỏ tham gia sản xuất. Chia 480.000 ha cho hơn 640.000 hộ, mỗi hộ có bình quân chưa đến 0,75 ha cà phê.

Để liên kết sản xuất, 71 hợp tác xã cà phê đã được thành lập ở Tây Nguyên và các vùng cà phê khác, theo VICOFA. Hợp tác xã là tổ chức do các hộ cùng góp vốn, cùng mua vật tư và cùng bán sản phẩm. Cách các tổ chức này nối nông hộ với doanh nghiệp được trình bày ở trang hợp tác xã và chuỗi thu mua cà phê.

Nguồn nước tưới cho vùng trồng cà phê Tây Nguyên

Nước tưới mùa khô là yếu tố quyết định năng suất cà phê Tây Nguyên. Vườn cà phê lấy nước chủ yếu từ hồ chứa và nước ngầm, và cả hai nguồn đều chịu sức ép khi mùa khô kéo dài. Theo VICOFA, cách tưới truyền thống vẫn phổ biến ở phần lớn vùng trồng và làm mất nhiều nước ngầm. Mục này đi qua định mức nước, tưới tiết kiệm, hạn hán và nước ngầm.

Hệ thống tưới phun nước cho vườn cà phê trong mùa khô
Ảnh minh họa: Robert So / Pexels

Tưới cà phê mùa khô cần bao nhiêu khối nước mỗi ha?

Một ha cà phê từng dùng khoảng 3.000 m³ nước tưới mỗi năm trước khi áp dụng tưới tiết kiệm, theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) trong thông tin đăng ngày 10/9/2025. Với tưới tiết kiệm, mức này còn 1.800–2.000 m³/ha mỗi năm. Một mét khối (m³) bằng 1.000 lít nước.

Nghiên cứu của tác giả Trần Viết Ôn thử nghiệm 3 vụ, từ năm 2006 đến 2009, ở Đắk Lắk. Quy trình dùng 500 m³/ha mỗi lần tưới, các lần cách nhau 30–35 ngày, kết hợp tủ gốc bằng màng PE. Tủ gốc là phủ một lớp vật liệu lên mặt đất quanh gốc cây để giữ ẩm. Bảng dưới gom ba mức nước từ hai nguồn để tiện so sánh.

Cách tướiLượng nướcSo với cách cũNguồn
Tưới theo cách cũKhoảng 3.000 m³/ha/nămMốc để so sánhWASI, 10/9/2025
Phun mưa tại gốc, bón phân qua hệ thống tưới1.800–2.000 m³/ha/nămGiảm 30–40% nước, năng suất tăng 10–15%WASI, 10/9/2025
Tưới 500 m³/ha mỗi lần, chu kỳ 30–35 ngày, tủ gốc màng PE500 m³/ha mỗi lầnGiảm 37% nước, năng suất không giảmTrần Viết Ôn, 2013

Tưới tiết kiệm nước giúp giảm bao nhiêu?

Tưới tiết kiệm giúp mỗi ha cà phê bớt 1.000–1.200 m³ nước mỗi năm. Phép tính lấy mức cũ 3.000 m³ trừ mức mới 1.800–2.000 m³, theo số liệu của WASI. Mức giảm này tương đương 33–40%, khớp với tỷ lệ 30–40% mà WASI công bố. Theo TS Phan Việt Hà, Phó Viện trưởng phụ trách WASI, mô hình được làm trên diện tích hơn 200 ha.

Phun mưa tại gốc là cách đưa nước thành tia nhỏ vào vùng rễ, thay vì tưới tràn khắp gốc. Trong thử nghiệm 2006–2009 tại Đắk Lắk, quy trình 500 m³/ha mỗi lần kết hợp tủ gốc tiết kiệm 37% lượng nước mà năng suất không giảm. Theo tác giả Trần Viết Ôn, tủ gốc còn giúp giảm chi phí chăm sóc. Đây là kết quả của mô hình thí điểm, nên mức giảm ở từng vườn có thể khác tùy địa hình và nguồn nước.

Hạn hán mùa khô và tình trạng thiếu nước tưới cà phê

Hạn hán mùa khô có thể kéo mực nước hồ chứa xuống thấp và gây thiếu nước tưới cà phê trên diện rộng, như đợt hạn đầu năm 2016. Theo VICOFA, đây là đợt hạn tồi tệ nhất trong 20 năm. Lượng mưa từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 thấp hơn cùng kỳ năm trước 40%. Đến giữa tháng 3/2016, mực nước các hồ chứa thấp hơn mức trung bình 15–35%.

VICOFA ghi đợt hạn này do hiện tượng El Niño gây ra. Mối liên hệ giữa các hiện tượng khí hậu lớn và mùa màng được phân tích ở trang thời tiết ảnh hưởng sản lượng cà phê. Khi hồ chứa xuống thấp, nguồn dự phòng còn lại của nhiều vườn là nước ngầm.

Khoan giếng khi hồ đập cạn: hệ quả với nước ngầm

Khi hồ chứa cạn, nhiều hộ khoan giếng để tưới, và theo VICOFA việc khoan giếng đã làm tổn hại nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm đất. Nước ngầm là nước nằm trong các lớp đất đá dưới mặt đất, được nước mưa bổ sung theo thời gian. Số đo của Đoàn Điều tra Quy hoạch Tài nguyên nước 704 cho thấy mực nước ngầm mùa khô ở Đắk Lắk và Đắk Nông thấp hơn đầu những năm 1980 khoảng 1,4–1,5 m.

Theo Báo Điện tử Chính phủ ngày 10/12/2010, có nơi mực nước giảm 4–5 m, gồm Buôn Ma Thuột, Krông Búk, Krông Pắc, Krông Ana và Cư M'gar. Ông Nguyễn Bách Thắng, chủ nhiệm dự án quan trắc nước ngầm Tây Nguyên, nêu nguyên nhân là bơm nước tưới cà phê nhiều trong mùa khô. Mực nước ngầm hạ trong mùa khô rồi hồi lại một phần trong mùa mưa nhờ nước mưa bổ sung.

Về quản lý, Nghị định 54/2024/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký và cấp phép khai thác. Kê khai là việc báo cho chính quyền biết có công trình khai thác nước. Nghị định đặt ra ba mức:

  • công trình khai thác nước dưới đất của hộ gia đình phải kê khai, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận;
  • khai thác nước dưới đất ngoài mục đích của hộ gia đình, quy mô không quá 10 m³/ngày đêm, phải đăng ký;
  • các trường hợp còn lại phải xin giấy phép, trong đó cấp bộ cấp phép cho công trình từ 3.000 m³/ngày đêm trở lên.

Tái canh vườn cà phê già cỗi ở Tây Nguyên

Tái canh là thay vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp bằng cây trồng mới. VICOFA xếp cây già cỗi vào nhóm khó khăn lớn của ngành, khi hồ sơ năm 2019 ghi khoảng 20% số cây đã trên 20 năm tuổi. Quy mô, chính sách và kỹ thuật tái canh nằm ở trang tái canh vườn cà phê già cỗi. Mô hình trồng xen cây khác trên cùng diện tích vườn được trình bày ở trang xen canh cà phê.

Thời tiết, quy định của EU và thị trường tác động thế nào?

Ngoài chuyện trong vườn, vùng cà phê Tây Nguyên chịu tác động trực tiếp từ thời tiết từng mùa vụ, quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EU) và biến động giá trên thị trường. Mỗi yếu tố có một trang phân tích riêng, với số liệu và thời điểm cập nhật cụ thể:

  • Lịch ra hoa, thu hoạch và tình hình niên vụ 2026/27 của vùng được theo dõi ở trang mùa vụ cà phê Việt Nam.
  • Các yêu cầu về nguồn gốc vườn trồng mà EU đặt ra với cà phê nhập khẩu được giải thích ở trang quy định chống phá rừng của EU.
  • Giá cà phê nhân tại các tỉnh Tây Nguyên được cập nhật hằng ngày, kèm nguồn và thời điểm, ở trang giá cà phê trong nước hôm nay.
  • Lý do giá giữa các địa phương có thể chênh nhau nằm ở các khâu thu mua, được giải thích ở trang cách hình thành giá cà phê.

Từ năm cao nguyên đất bazan của năm tỉnh cũ, nay thuộc Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi, vùng cà phê Tây Nguyên đi từ mốc giống Robusta năm 1908 đến vai trò trụ cột của cà phê Việt Nam. Số liệu theo tỉnh nằm ở trang diện tích cà phê từng tỉnh Tây Nguyên, còn đặc tính giống chủ lực nằm ở trang cà phê Robusta Tây Nguyên.