Bài dùng bốn khái niệm xuyên suốt. Giá tham chiếu là giá của kỳ hạn gần nhất trên sàn. Chênh lệch (differential) là phần cộng hoặc trừ so với giá sàn; trong nước, phần trừ thường gọi là trừ lùi, phần cộng gọi là cộng thêm. Giá FOB là giá giao hàng lên tàu ở cảng xuất, còn giá thu mua là giá đại lý hoặc doanh nghiệp trả bằng đồng/kg.

Các phần tiếp theo đi qua 4 chặng kèm một phép tính, hai phần tóm tắt về chênh lệch và quy đổi, 6 yếu tố tác động, ảnh hưởng tới nông dân Tây Nguyên, các loại hợp đồng và cách đọc bản tin giá. Bài giải thích cơ chế, không đưa giá hôm nay và không khuyến nghị mua bán.

Giá cà phê đi qua 4 chặng nào trước khi tới tay nông dân?

Giá cà phê đi qua 4 chặng: giá kỳ hạn trên sàn, giá xuất khẩu FOB bằng giá sàn cộng hoặc trừ chênh lệch, giá tại kho quy ra đồng/kg và giá trả tại vườn. Từ chặng FOB trở xuống, mỗi bên trung gian trừ chi phí và phần lợi nhuận của mình, nên giá chặng sau thấp hơn chặng trước. Riêng bước từ sàn sang FOB có thể cộng hoặc trừ, tùy chênh lệch.

  1. Giá sàn: tính bằng USD/tấn với Robusta và US cent/lb với Arabica, do lệnh mua bán trên ICE Futures Europe và ICE Futures U.S. tạo ra.
  2. Giá FOB: tính bằng USD/tấn, do nhà xuất khẩu chào và nhà nhập khẩu chấp nhận hoặc mặc cả.
  3. Giá tại kho: tính bằng đồng/kg, do nhà xuất khẩu và các kho thu mua công bố.
  4. Giá tại vườn: tính bằng đồng/kg, do đại lý trả cho người trồng.

Sơ đồ dưới đây đặt 4 chặng trên một trục, mỗi ô ghi đơn vị tính của chặng đó.

Sơ đồ 4 chặng giá cà phê đi từ sàn kỳ hạn qua giá FOB, giá tại kho tới giá tại vườn
Sơ đồ: 4 chặng hình thành giá cà phê – Nguồn: Hỏa Tốc 24h tổng hợp

Chặng đầu tiên quyết định mọi chặng còn lại, nên cần hiểu sàn kỳ hạn trước.

Sàn kỳ hạn London và New York đặt giá tham chiếu cho cà phê toàn cầu

Giá tham chiếu của Robusta là giá kỳ hạn trên sàn ICE Futures Europe ở London, tính bằng USD/tấn. Giá tham chiếu của Arabica là giá hợp đồng Coffee "C" trên sàn ICE Futures U.S. ở New York, tính bằng US cent/lb. Hàng thật lấy giá kỳ hạn làm mốc vì giá này công khai, được khớp liên tục trong giờ giao dịch và người mua bán ở bất cứ đâu cũng tra được.

Kỳ hạn là tháng giao hàng ghi trong hợp đồng; kỳ hạn gần nhất là hợp đồng sắp tới tháng giao hàng nhất. Bản tin thường dẫn kỳ hạn này vì nó sát thời điểm giao hàng thật hơn cả. Theo đặc tả của ICE Futures Europe tra ngày 11/10/2026, ngày giao dịch cuối của Robusta là ngày làm việc thứ tư trước ngày làm việc cuối cùng của tháng giao hàng. Trên MXV, kỳ hạn tháng 11/2026 có ngày giao dịch cuối là 24/11/2026, sau đó kỳ hạn tháng 1/2027 trở thành kỳ hạn gần nhất.

Tiêu chíRobusta – LondonArabica – New York
Sàn hiện nayICE Futures EuropeICE Futures U.S.
Mã hợp đồngRCKC (Coffee "C")
Đơn vị yết giáUSD/tấnUS cent/lb, hai chữ số thập phân
Cỡ một lô10 tấn37.500 lb
Bước giá1 USD/tấn (10 USD/hợp đồng)0,05 cent/lb (18,75 USD/hợp đồng)
Tháng đáo hạn1, 3, 5, 7, 9, 113, 5, 7, 9, 12
Giờ giao dịch09:00–17:30 giờ London04:15–13:30 giờ miền Đông Mỹ
Giới hạn biến động trong ngàyKhông cóKhông có

Nguồn: đặc tả hợp đồng của ICE Futures Europe và ICE Futures U.S., tra ngày 11/10/2026.

Các bản tin trong nước đặt giá thu mua cà phê nhân ở Tây Nguyên cạnh giá Robusta London. Coffee "C" nhận giao hàng từ nhiều nước trồng Arabica như Colombia, Brazil và Honduras. Theo ICE Futures U.S., từ kỳ hạn tháng 5/2027, cà phê Việt Nam cũng được giao trên Coffee "C" với mức trừ 600 điểm. Trong nước, Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) niêm yết hợp đồng Cà phê Robusta ICE, mã LRC, liên thông với ICE EU, cùng cỡ lô 10 tấn và cùng tháng đáo hạn.

Diễn biến từng phiên của hai thị trường được theo dõi ở trang về sàn London và trang về sàn New York.

Giá sàn chỉ là mốc. Lô hàng thật còn được cộng hoặc trừ theo cung cầu của chính nó.

Cung cầu hàng thật quyết định mức cộng hoặc trừ so với giá sàn

Mức cộng hoặc trừ so với giá sàn, gọi là chênh lệch, phản ánh cung cầu của chính lô hàng thật: loại hạt, chất lượng, xuất xứ, thời điểm giao và lượng hàng sẵn có. Khi hàng khan, người mua chấp nhận trả trên giá sàn và chênh lệch dương, tức cộng thêm. Khi hàng dư, chênh lệch âm, tức trừ lùi.

Chính sàn kỳ hạn cũng định giá theo chất lượng và xuất xứ. Theo ICE Futures Europe, trên hợp đồng Robusta, cà phê loại 1 giao đúng giá hợp đồng, còn các loại khác giao kèm mức cộng hoặc trừ do sàn quy định. Theo ICE Futures U.S., trên Coffee "C", cà phê Colombia, Costa Rica và Kenya được cộng 1.000 điểm, Guatemala cộng 500 điểm, còn Brazil bị trừ 600 điểm.

Ngoài phần sàn quy định, chênh lệch của hàng thật thay đổi theo bốn yếu tố. Thứ tự dưới đây xếp theo mức tác động thường gặp:

  1. lượng hàng sẵn có ở nước xuất khẩu trong từng giai đoạn của vụ;
  2. chất lượng và loại hạt, gồm độ ẩm, tỷ lệ hạt đen vỡ và cỡ hạt;
  3. tồn kho đạt chuẩn trong kho của sàn, tức lượng hàng sẵn sàng giao theo hợp đồng;
  4. nhu cầu của các nhà rang xay đối với từng xuất xứ.

Khi đã có giá sàn và chênh lệch, câu hỏi tiếp theo là ai thật sự đưa ra từng con số.

Ai đặt giá ở mỗi chặng: sàn, nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, đại lý hay nông dân

Giá sàn do dòng lệnh mua bán của mọi người tham gia thị trường tạo ra. Chênh lệch do nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu thương lượng. Giá đồng/kg do nhà xuất khẩu và đại lý công bố, còn nông dân thường là bên nhận giá.

ChặngAi đặt giáCăn cứ để đặtBên còn lại có quyền thương lượng không
Sàn kỳ hạnToàn bộ lệnh mua và bán khớp trên ICEKỳ vọng cung cầu, tin thời tiết, dòng tiềnKhông thương lượng riêng, chỉ chọn mua hay bán ở mức giá nào
Nhà nhập khẩu hoặc rang xayĐưa ra mức chênh lệch chấp nhận đượcChất lượng, xuất xứ, thời điểm giaoNhà xuất khẩu mặc cả chênh lệch và điều kiện giao
Nhà xuất khẩuChào giá FOB và công bố giá mua tại khoGiá sàn, chênh lệch đã ký, tỷ giá, chi phíĐại lý mặc cả theo chất lượng và khối lượng
Đại lý thu muaBáo giá đồng/kg cho người trồngGiá tại kho trừ chi phí và phần của đại lýNgười trồng chọn nơi bán và lúc bán
Nông dânThường không đặt giáGiá được đại lý báoChọn thời điểm bán và hình thức bán

Người trồng không đặt được con số nhưng vẫn có lựa chọn về thời điểm bán, nơi bán và hình thức bán như bán ngay, chốt giá sau hay ký gửi. Mỗi lựa chọn đi kèm rủi ro khác nhau, được mô tả ở phần hợp đồng bên dưới. Các mắt xích của chuỗi thu mua từ nông dân đến nhà xuất khẩu được phân tích ở trang riêng.

Ghép các chặng bằng con số cụ thể sẽ thấy rõ giá đi từ sàn tới vườn như thế nào.

Ví dụ tính từng bước từ giá Robusta trên sàn đến giá thu mua tại Tây Nguyên

Ví dụ sau đi qua 5 bước từ giá Robusta trên sàn London tới giá đồng/kg tại vườn. Số liệu lấy từ bản tin sáng 10/10/2026 của Báo Lào Cai và tỷ giá hiển thị trên trang Ngân hàng Nhà nước khi tra ngày 11/10/2026. Kết quả là phép tính trên số của một buổi sáng, không phải giá hôm nay.

  1. Lấy giá Robusta kỳ hạn gần nhất, ở đây là kỳ hạn tháng 11/2026, tính bằng USD/tấn.
  2. Cộng hoặc trừ chênh lệch của loại hạt đang bán để ra giá FOB, vẫn tính bằng USD/tấn.
  3. Trừ chi phí đưa hàng từ kho ra cảng, chi phí sơ chế, chi phí vốn và phần của nhà xuất khẩu để ra giá tại kho.
  4. Nhân tỷ giá USD/VND rồi chia 1.000 để đổi USD/tấn thành đồng/kg.
  5. Trừ chi phí vận chuyển và phần của đại lý để ra giá tại vườn.

Bảng dưới gộp bước 2, 3 và 5 thành một khoảng cách duy nhất, đo bằng hiệu số giữa giá thu mua và giá sàn đã quy đổi.

BướcPhép tínhKết quả và đơn vị
1. Giá Robusta kỳ hạn tháng 11/2026Theo bản tin sáng 10/10/2026 của Báo Lào Cai3.423 USD/tấn
2. Quy đổi ra đồng/kg3.423 × 25.629 ÷ 1.000 (tỷ giá trên trang Ngân hàng Nhà nước, tra 11/10/2026)Khoảng 87.728 đồng/kg
3. Giá thu mua tại Đắk Lắk cùng sángTheo Báo Lào Cai và Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, 10/10/202691.800 đồng/kg
4. Khoảng cách giữa giá thu mua và giá sàn quy đổi91.800 − 87.728Khoảng 4.072 đồng/kg
5. Quy khoảng cách ngược về USD/tấn4.072 × 1.000 ÷ 25.629Khoảng 158,9 USD/tấn

Sáng 10/10/2026, giá thu mua tại Đắk Lắk cao hơn giá sàn quy đổi khoảng 4.072 đồng/kg, tương đương khoảng 158,9 USD/tấn. Khoảng cách này gộp chung chênh lệch của hàng thật, các chi phí trung gian và khác biệt giữa các loại tỷ giá. Vì vậy, dấu và độ lớn của nó đổi theo từng thời điểm.

Kết quả tính tay có thể lệch so với giá thực tế vì ba lý do: giá sàn thuộc phiên nào, tỷ giá loại nào và giá thu mua ở vùng nào. Cùng sáng 10/10/2026, bản tin ghi Lâm Đồng 91.200 đồng/kg và vùng Đắk Nông cũ 92.000 đồng/kg, dù theo Nghị quyết 202/2025/QH15 hai vùng nay cùng thuộc tỉnh Lâm Đồng. Nghị quyết này cũng nhập Phú Yên vào tỉnh Đắk Lắk. Từng bước tính được trình bày kỹ hơn ở cách quy đổi chi tiết.

Hai bước giữa của ví dụ là cộng trừ chênh lệch và quy đổi đơn vị, được tóm tắt ở hai mục sau.

Giá sàn cộng trừ chênh lệch: giá xuất khẩu bám theo sàn ra sao

Giá xuất khẩu bằng giá kỳ hạn trên sàn cộng hoặc trừ một mức chênh lệch mà hai bên thỏa thuận theo chất lượng và thời điểm giao. Vì giá FOB = giá sàn ± chênh lệch, giá xuất khẩu lên xuống cùng nhịp với sàn. Cách tính đầy đủ có ở trang giá sàn cộng trừ chênh lệch.

Quy đổi từ giá sàn sang giá thu mua: từ USD/tấn ra đồng/kg

Muốn đổi USD/tấn ra đồng/kg, lấy giá USD/tấn nhân tỷ giá rồi chia 1.000, vì một tấn bằng 1.000 kg. Theo NIST, 1 lb bằng 0,4535924 kg, nên với Arabica yết bằng US cent/lb, cần nhân thêm khoảng 22,046 để ra USD/tấn trước. Sau đó mới trừ chi phí trung gian, như hướng dẫn ở trang quy đổi từ giá sàn sang giá thu mua.

6 yếu tố ảnh hưởng đến giá cà phê, xếp theo mức tác động

Sáu yếu tố chính làm giá cà phê thay đổi, xếp từ mạnh tới yếu, là cung cầu và tồn kho, thời tiết ở các nước trồng lớn, dòng tiền đầu cơ, tỷ giá và sức mạnh đồng đô la, chi phí logistics, chính sách thương mại. Thứ tự này là cách xếp phổ biến, không phải quy luật cố định.

Mỗi yếu tố chạm vào một chặng khác nhau trong 4 chặng hình thành giá:

Yếu tốTác động vào chặng nào
Cung cầu và tồn khoGiá sàn, đồng thời làm chênh lệch của hàng thật đổi theo
Thời tiết ở các nước trồng lớnGiá sàn, qua kỳ vọng về sản lượng
Dòng tiền đầu cơGiá sàn
Tỷ giá và sức mạnh đồng đô laGiá sàn tính bằng USD và bước quy đổi ra đồng/kg
Chi phí logisticsChênh lệch và giá tại kho
Chính sách thương mạiChênh lệch, qua thuế và chi phí tuân thủ

Yếu tố đầu tiên và mạnh nhất là lượng cà phê có trên thị trường so với lượng người mua cần.

Cung cầu và tồn kho cà phê toàn cầu

Khi sản lượng thế giới thấp hơn nhu cầu và tồn kho đạt chuẩn trên sàn giảm, giá kỳ hạn tăng; khi thừa hàng, giá giảm. Cán cân cung cầu là phần chênh giữa lượng sản xuất và lượng tiêu thụ của một niên vụ: thiếu gọi là thâm hụt, dư gọi là thặng dư. Tồn kho đạt chuẩn là cà phê đã qua kiểm định, nằm trong kho do sàn chỉ định ở châu Âu hoặc Mỹ và sẵn sàng giao theo hợp đồng. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) theo dõi cung cầu trong báo cáo thị trường hằng tháng (Coffee Market Report).

Theo ICO, giá chỉ báo tổng hợp (I-CIP) tháng 9/2026 là 262,18 US cent/lb, giảm 8,7% so với tháng 8/2026, và cả bốn nhóm giá chỉ báo đều giảm. So với mức 330,44 US cent/lb của tháng 11/2025, chỉ số đã thấp hơn khoảng 20,7%.

Giá chỉ báo tổng hợp I-CIP của ICO qua một số tháng

US cent/lb0100200300400330,44304,68273,7266,24262,18T11/2025T12/2025T3/2026T4/2026T9/2026T11/2025 330,44 US cent/lbT12/2025 304,68 US cent/lbT3/2026 273,7 US cent/lbT4/2026 266,24 US cent/lbT9/2026 262,18 US cent/lb
Xem số liệu
Đơn vị: US cent/lbGiá trị
T11/2025330,44
T12/2025304,68
T3/2026273,7
T4/2026266,24
T9/2026262,18
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: ICO, 11/10/2026

Phía nguồn cung, Conab ngày 24/9/2026 ước vụ cà phê Brazil 2026 đạt 67,6 triệu bao, tăng 19,6% so với 2025 và cao nhất trong chuỗi số liệu của cơ quan này. Trong đó, Arabica đạt 48,2 triệu bao, tăng 34,8%, còn Conilon, tên gọi Robusta ở Brazil, đạt 19,4 triệu bao, giảm 6,6%. Theo ICO, xuất khẩu Robusta của thế giới trong 12 tháng tính đến tháng 8/2026 tăng khoảng 12,1%, trong khi Arabica giảm khoảng 5,3%.

Xuất khẩu cà phê thế giới 12 tháng theo loại

triệu bao025507510085,9781,3954,4861,05ArabicaRobustaArabica 12 tháng tới T8/2025: 85,97 triệu bao 12 tháng tới T8/2026: 81,39 triệu baoRobusta 12 tháng tới T8/2025: 54,48 triệu bao (-36,6 % so với Arabica) 12 tháng tới T8/2026: 61,05 triệu bao (-25 % so với Arabica)

■12 tháng tới T8/2025 ■12 tháng tới T8/2026

Xem số liệu
Đơn vị: triệu bao12 tháng tới T8/202512 tháng tới T8/2026
Arabica85,9781,39
Robusta54,4861,05
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: ICO, 11/10/2026

Theo ICO, xuất khẩu cà phê thế giới từ tháng 10/2025 đến tháng 8/2026 đạt 130,81 triệu bao, tăng 1,1% so với 129,38 triệu bao cùng kỳ niên vụ 2024/25. Biến động ở chặng giá sàn truyền xuống giá đồng/kg qua phép quy đổi trong ví dụ ở trên.

Biến số làm cán cân cung cầu đổi nhanh nhất là thời tiết ở các vùng trồng.

Thời tiết ở Brazil, Việt Nam và các nước sản xuất lớn

Hạn hán, sương giá hay mưa trái mùa ở các nước trồng lớn làm thị trường lo thiếu hàng, nên giá sàn thường phản ứng ngay, trước khi có số liệu sản lượng chính thức. Lý do là giá kỳ hạn phản ánh lượng hàng người mua kỳ vọng nhận được vào tháng giao, không chỉ lượng hàng đang có.

Theo Conab, Arabica chiếm khoảng 70% sản lượng cà phê Brazil, nên thời tiết ở Brazil tác động mạnh tới giá Arabica tại New York. Thời tiết ở các vùng trồng Robusta, trong đó có Tây Nguyên, tác động chủ yếu lên giá London. Conab ghi nhận nhiệt độ thấp ở bang Espírito Santo làm cây Conilon ra hoa không đều, kéo sản lượng Conilon của bang giảm 14,3%, còn 12,1 triệu bao. Ngược lại, ở Minas Gerais, mưa phân bố tốt trước mùa ra hoa giúp hạt đậu tốt.

Tin thời tiết đi vào giá sàn trước, rồi qua phép quy đổi mới tới giá đồng/kg trong nước. Tình hình từng nước trồng được theo dõi ở trang về các nước sản xuất cà phê lớn.

Tin thời tiết thường được dòng tiền đầu cơ khuếch đại trên sàn.

Dòng tiền đầu cơ của các quỹ trên sàn kỳ hạn

Các quỹ đầu cơ mua hoặc bán khối lượng lớn hợp đồng kỳ hạn mà không cần hàng thật, nên giá sàn có thể tăng hoặc giảm mạnh hơn mức cung cầu thật cho thấy. Nhà đầu cơ là bên tìm lời từ biến động giá, khác với nhà sản xuất, thương nhân hay nhà rang xay cần hàng thật.

Ở Mỹ, Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Kỳ hạn (CFTC) công bố báo cáo Commitments of Traders (COT), tức báo cáo vị thế của người giao dịch. Báo cáo tách số hợp đồng mở của từng thị trường có từ 20 nhà giao dịch thuộc diện báo cáo trở lên. Theo CFTC, báo cáo thường ra vào thứ Sáu lúc 15:30 giờ miền Đông Mỹ, với số liệu tính tới thứ Ba trước đó; bản mới nhất khi tra ngày 11/10/2026 ghi ngày 6/10/2026.

Dạng tách nhóm (Disaggregated) chia người giao dịch thành bốn nhóm, trong đó nhóm quỹ quản lý tiền (Managed Money) phản ánh dòng tiền đầu cơ. Vì quỹ có thể mở hoặc đóng vị thế trong vài phiên, giá sàn biến động mạnh trong ngắn hạn. Giá đồng/kg trong nước nhận biến động đó vào sáng hôm sau.

Bên cạnh dòng tiền, đồng đô la quyết định con số khi giá sàn đổi sang đồng/kg.

Tỷ giá USD/VND và sức mạnh của đồng đô la

Đồng đô la tác động vào giá cà phê theo hai đường. Giá sàn yết bằng USD, nên khi đô la lên giá so với euro hay yên, cùng một mức giá trở nên đắt hơn với người mua dùng các đồng tiền đó. Với Việt Nam, tỷ giá USD/VND đi thẳng vào bước nhân tỷ giá của phép quy đổi.

Trang tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước hiển thị 25.629 đồng/USD khi tra ngày 11/10/2026. Với giá sàn 3.423 USD/tấn trong ví dụ trên, mỗi 100 đồng thay đổi của tỷ giá làm giá quy đổi đổi khoảng 342,3 đồng/kg. Khi giá sàn giảm đúng lúc tỷ giá tăng, hai tác động bù nhau và giá đồng/kg có thể gần như đứng yên.

Sau tỷ giá, khoản chi phí đáng kể tiếp theo nằm ở khâu đưa hàng ra cảng và đi biển.

Chi phí logistics và tuyến vận tải biển

Cước tàu và chi phí đưa hàng ra cảng tăng thì phần nằm giữa giá FOB và giá giao tới người mua lớn lên. Khi đó, chênh lệch hoặc giá tại kho trong nước có thể bị ép xuống. Theo Incoterms 2020 của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), với điều kiện FOB, người mua ký hợp đồng và trả cước vận chuyển từ cảng tới cảng.

Vì vậy, khi tuyến biển gián đoạn, người mua theo điều kiện FOB gánh phần cước tăng thêm trước, và có thể tính khoản này vào mức chênh lệch chào cho các lô sau. Với điều kiện CIF, người bán trả cước tới cảng đích, nên chi phí tăng nằm ngay trong giá bán. Chi phí logistics đi qua chặng chênh lệch và giá tại kho rồi mới tới giá đồng/kg.

Tàu container cập cảng biển, thể hiện chi phí vận tải trong giá cà phê
Ảnh minh họa: Jose Parra / Pexels

Ngoài chi phí thị trường, quy định của các nước nhập khẩu cũng chen vào giá.

Chính sách thương mại, thuế quan và quy định chống phá rừng của EU

Thuế nhập khẩu và quy định truy xuất nguồn gốc làm chi phí tuân thủ tăng lên, có thể tạo mức chênh lệch khác nhau giữa lô hàng đáp ứng quy định và lô hàng không đáp ứng. Thuế quan tác động lên giá giao tới người mua ở thị trường nhập khẩu, nên chạm vào chặng chênh lệch.

Ngày 14/11/2025, Nhà Trắng công bố cà phê và chè không còn chịu thuế đối ứng của Mỹ, hiệu lực từ ngày 13/11/2025. Theo Ủy ban châu Âu, Quy định (EU) 2023/1115 về sản phẩm không gây phá rừng áp dụng từ 30/12/2026 với doanh nghiệp lớn và vừa, từ 30/6/2027 với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ. Cà phê hòa tan vào phạm vi quy định từ 30/12/2027. Nội dung quy định được giải thích ở trang về quy định chống phá rừng EUDR.

Mọi yếu tố trên cuối cùng đều dồn về con số mà nông dân Tây Nguyên nhận được.

Giá cà phê thế giới ảnh hưởng thế nào đến nông dân Tây Nguyên?

Giá thế giới đến tay nông dân Tây Nguyên theo hai đường. Đường thứ nhất là thời gian: giá thu mua buổi sáng chậm khoảng một phiên so với sàn. Đường thứ hai là phần bị trừ: người trồng nhận giá đã qua chênh lệch, chi phí trung gian và quy đổi. Có giai đoạn giá trong nước còn đi lệch khỏi sàn.

Phần nằm giữa giá FOB và giá tại vườn gồm chi phí sơ chế, vận chuyển, chi phí vốn, phần của nhà xuất khẩu và phần của đại lý. Các khoản này thay đổi theo vùng, theo chất lượng và theo lượng bán. Hàng ẩm hoặc lẫn tạp chất phải sấy và làm sạch thêm, nên bị trừ nhiều hơn. Cách đại lý tính các khoản này được nói ở trang về vai trò của đại lý thu mua.

Cành cà phê trĩu quả chín đỏ trên cây ở vùng cao nguyên Việt Nam
Ảnh minh họa: 1500m Coffee / Pexels (Pexels License)

Đường đầu tiên là thời gian, tức độ trễ giữa sàn và chợ.

Độ trễ một phiên: giá sàn đêm qua thành giá thu mua sáng nay

Sàn London đóng phiên vào đêm theo giờ Việt Nam, nên giá thu mua công bố sáng nay phản ánh kết quả phiên đêm qua. Theo ICE Futures Europe, hợp đồng Robusta giao dịch 09:00–17:30 giờ London. MXV ghi khung giờ tương ứng là 15:00–23:30, từ thứ Hai đến thứ Sáu.

Khung 15:00–23:30 ứng với giờ mùa hè của Anh, sớm hơn giờ GMT 1 tiếng. Theo GOV.UK, nước Anh lùi đồng hồ ngày 25/10/2026, nên từ đó cùng khung giờ London tương ứng 16:00 tới 00:30 giờ Việt Nam. Năm 2027, giờ mùa hè của Anh kéo dài từ 28/3 tới 31/10.

Bản tin sáng 9/10/2026 của Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập ghi giá sàn cập nhật lúc 05:59 và giá thu mua Tây Nguyên lúc 06:03. Theo cùng tạp chí, giá thu mua giảm 1.400 đồng/kg sáng 9/10/2026 và giảm tiếp 1.000 đồng/kg sáng 10/10/2026, mỗi lần so với sáng hôm trước. Khi sàn mở phiên mới vào buổi chiều, giá có thể đổi thêm trong ngày, nên đọc giá buổi sáng cần xem giờ cập nhật và phiên của con số.

Dòng mốc giờ dưới đây cho thấy giá đi từ lúc sàn London đóng phiên tới giá thu mua trong khoảng 6 tiếng 30 phút.

Dòng mốc giờ từ lúc sàn London mở phiên tới lúc giá thu mua cà phê được công bố buổi sáng
Sơ đồ: Từ phiên London tới giá thu mua buổi sáng – Nguồn: ICE Futures Europe, MXV, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, 11/10/2026

Ngoài độ trễ, giá trong nước không phải lúc nào cũng đi cùng nhịp với sàn.

Khi nào giá trong nước tách khỏi sàn London?

Giá trong nước tách khỏi sàn London khi cung cầu hàng thật ở Việt Nam lệch mạnh so với thị trường kỳ hạn. Ba tình huống thường gặp gồm:

  • cuối vụ, hàng trong dân còn ít nên người mua phải trả cao hơn mức sàn quy đổi;
  • đầu vụ, hàng thu hoạch về dồn dập nên giá trong nước bị ép thấp hơn mức sàn quy đổi;
  • tỷ giá USD/VND biến động mạnh, làm giá quy đổi lệch khỏi diễn biến của sàn.

Dấu hiệu dễ thấy là chênh lệch đổi dấu, từ trừ lùi sang cộng thêm hoặc ngược lại. Người đọc có thể tự kiểm bằng phép tính ở mục ví dụ: sáng 10/10/2026, giá thu mua tại Đắk Lắk cao hơn giá sàn quy đổi khoảng 4.072 đồng/kg. Lịch thu hoạch, yếu tố quyết định lúc hàng khan hay dư, được trình bày ở trang về mùa vụ cà phê Việt Nam.

Cách giá được chốt trong hợp đồng cũng quyết định người bán nhận giá của ngày nào.

Các loại hợp đồng mua bán cà phê và cách giá được chốt

Giá cà phê được chốt theo 4 kiểu chính: chốt giá cố định ngay khi ký, chốt theo mức chênh lệch so với sàn, giao hàng trước rồi chốt giá sau, và ký gửi. Hai kiểu đầu thường gặp ở chặng xuất khẩu, giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Hai kiểu sau thường gặp ở chặng thu mua từ người trồng, nơi hàng đã giao nhưng giá chưa chốt.

Bao tải cà phê nhân xếp chồng trong kho chờ giao hàng và chốt giá
Ảnh minh họa: cottonbro studio / Pexels

Hai kiểu cơ bản nhất ở chặng xuất khẩu là giá cố định và giá theo chênh lệch.

Hợp đồng giá cố định (outright) và hợp đồng theo mức chênh lệch khác nhau thế nào?

Hợp đồng giá cố định (outright) chốt toàn bộ giá ngay khi ký. Hợp đồng theo mức chênh lệch chỉ chốt phần cộng hoặc trừ, còn giá sàn để một bên chọn ngày chốt sau.

Tiêu chíGiá cố định (outright)Theo mức chênh lệch
Giá chốt khi nàoToàn bộ giá chốt ngay khi kýChênh lệch chốt khi ký, giá sàn chốt vào một ngày sau
Rủi ro giá sàn sau khi kýKhông còn trong hợp đồng; mỗi bên tự lo phần hàng của mìnhBên được quyền chọn ngày chốt chịu biến động cho tới ngày chốt
Rủi ro chênh lệchĐã nằm trong giá cố địnhĐã khóa từ lúc ký

Kiểu theo chênh lệch cho phép tách hai phần rủi ro: chênh lệch khóa ngay, còn giá sàn có thể phòng ngừa trên sàn kỳ hạn. Kiểu giá cố định dễ đối chiếu hơn, vì cả hai bên biết ngay số tiền của lô hàng. Mỗi kiểu hợp với một cách quản lý rủi ro, không kiểu nào luôn có lợi hơn.

Khi quyền chốt sau được đẩy xuống tới người trồng, thị trường có hợp đồng chốt giá sau.

Hợp đồng chốt giá sau là gì và người bán chịu rủi ro nào?

Hợp đồng chốt giá sau là cách người bán giao cà phê trước rồi chọn một ngày về sau để chốt giá, thường theo giá thu mua hoặc giá sàn của ngày chốt. Rủi ro lớn nhất của người bán là giá đi xuống trước ngày chốt và bên mua mất khả năng thanh toán.

Cơ chế thường gồm bốn phần: người bán giao hàng, bên mua có thể ứng trước một phần tiền, hai bên thỏa thuận hạn chốt cuối cùng, và bên mua có thể thu phí hoặc lãi trên khoản ứng trước. Các rủi ro người bán gánh, xếp từ nặng tới nhẹ:

  1. bên mua mất khả năng thanh toán khi hàng đã giao nhưng tiền chưa trả đủ;
  2. giá giảm trong lúc chờ, khiến số tiền nhận được thấp hơn giá lúc giao hàng;
  3. phí và lãi trên tiền tạm ứng làm giảm số tiền thực nhận;
  4. điều khoản hạn chốt bắt buộc buộc người bán chốt giá vào thời điểm không tự chọn.

Các điều khoản cần đọc kỹ gồm khối lượng và chất lượng đã giao, mức ứng trước, phí và lãi, giá nào được dùng để chốt, hạn chốt cuối cùng và cách xử lý khi quá hạn.

Ở cấp nông hộ, hình thức gần với chốt giá sau nhất là ký gửi.

Ký gửi cà phê là gì và giá được chốt ra sao?

Ký gửi cà phê là việc nông dân đem cà phê gửi vào kho của đại lý hoặc doanh nghiệp, nhận biên nhận, rồi chọn một ngày bán và lấy giá công bố của ngày đó. Một giao dịch ký gửi thường gồm bốn bước:

  1. gửi hàng vào kho, hai bên cân và ghi khối lượng, độ ẩm;
  2. nhận biên nhận ghi số hàng đã gửi;
  3. chịu phí lưu kho theo thỏa thuận trong thời gian gửi;
  4. báo chốt giá vào ngày chọn bán và nhận tiền theo giá kho công bố ngày đó.

Giá chốt thường căn cứ vào giá thu mua mà chính kho hoặc đại lý công bố trong ngày, nên người gửi phụ thuộc vào bảng giá của bên giữ hàng. Ở hợp đồng chốt giá sau, hàng đã được bán và chỉ còn giá chưa chốt; ở ký gửi, việc mua bán chỉ diễn ra khi người gửi báo bán. Rủi ro lớn nhất là kho mất khả năng trả hàng hoặc trả tiền đúng lúc người gửi muốn chốt.

Khi kho mất khả năng trả, câu hỏi đầu tiên của người gửi là tờ biên nhận có giá trị pháp lý đến đâu.

Biên nhận ký gửi cà phê có giá trị pháp lý không?

Biên nhận ký gửi là chứng cứ về việc gửi hàng. Giá trị pháp lý của nó phụ thuộc vào nội dung ghi trên giấy và quan hệ hợp đồng mà hai bên thực sự xác lập. Việc kết luận cho từng vụ thuộc về tòa án hoặc luật sư.

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hai loại hợp đồng gần với ký gửi. Điều 554 viết: "Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản". Theo Điều 557, bên giữ phải bồi thường nếu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng; Điều 559 buộc bên giữ trả lại chính tài sản đã nhận, trừ khi có thỏa thuận khác. Nếu hai bên thực chất đã chuyển quyền sở hữu cà phê, quan hệ có thể gần với hợp đồng mua bán tài sản theo Điều 430.

Một biên nhận nên ghi đủ các nội dung sau:

  • khối lượng, độ ẩm và chất lượng hàng lúc giao, vì Điều 555 yêu cầu bên gửi báo tình trạng tài sản khi giao;
  • phí lưu kho và cách tính phí;
  • cách chốt giá, giá do ai công bố và vào giờ nào;
  • thời hạn gửi, vì Điều 556 cho phép lấy lại hàng bất cứ lúc nào nếu hợp đồng không xác định thời hạn, với điều kiện báo trước một thời gian hợp lý;
  • tên, địa chỉ và chữ ký của hai bên.

Biên nhận thiếu giá, thiếu cách chốt hoặc thiếu chữ ký khiến việc chứng minh nội dung thỏa thuận khó hơn khi có tranh chấp.

Ở chặng xuất khẩu, giá còn được ghi kèm điều kiện giao hàng, thường gặp là FOB và CIF.

Giá FOB và giá CIF cà phê khác nhau thế nào?

Giá cà phê FOB (Free On Board) là giá giao lên tàu tại cảng xuất: người bán đưa hàng lên con tàu do người mua chỉ định và làm thủ tục thông quan xuất khẩu. Giá CIF (Cost, Insurance and Freight) đã cộng thêm cước tàu và bảo hiểm tới cảng đích, nên cao hơn giá FOB của cùng lô hàng. Cả hai điều kiện thuộc Incoterms 2020 của ICC, bộ quy tắc được dùng từ năm 1936.

Tiêu chíFOBCIF
Nơi chuyển rủi roKhi hàng đã ở trên tàu tại cảng bốcCũng khi hàng đã ở trên tàu tại cảng bốc
Bên trả cước tàuNgười muaNgười bán, tới cảng đích
Bên mua bảo hiểmNgười bán không mua cho người muaNgười bán, tối thiểu theo Institute Cargo Clauses (C)
Giá nào cao hơnThấp hơnCao hơn, vì gồm cước và bảo hiểm
Phương thức vận tảiĐường biển, đường thủy nội địaĐường biển, đường thủy nội địa

Theo ICC, CIF thường được dùng trong mua bán hàng hóa cơ bản. Với hàng đi container, ICC xem FCA là điều kiện phù hợp hơn FOB. Giá FOB dừng ở cảng xuất, nên so sánh được trực tiếp với giá sàn và giá trong nước mà không lẫn cước tàu.

Biết giá chốt theo kiểu nào và giao theo điều kiện nào, doanh nghiệp còn có thể khóa rủi ro giá bằng sàn kỳ hạn.

Phòng ngừa rủi ro giá (hedging) cà phê hoạt động thế nào?

Phòng ngừa rủi ro giá (hedging) là việc mở một vị thế trên sàn kỳ hạn ngược chiều với lô hàng thật, để phần lời ở bên này bù phần lỗ ở bên kia khi giá biến động. Bên thường dùng là những người giữ hàng hoặc đã cam kết giá trong một thời gian, như nhà xuất khẩu và nhà rang xay.

Cơ chế đi qua ba bước:

  1. Nhà xuất khẩu mua cà phê nhân trong nước; từ lúc này họ giữ hàng thật và chịu rủi ro giá sàn giảm.
  2. Cùng lúc, nhà xuất khẩu bán hợp đồng kỳ hạn với khối lượng tương ứng; mỗi hợp đồng Robusta là 10 tấn.
  3. Khi giao hàng cho người mua, nhà xuất khẩu mua lại hợp đồng kỳ hạn để đóng vị thế; nếu giá sàn đã giảm, phần lời trên sàn bù phần giá bán hàng thật thấp đi.

Hedging chỉ khóa được phần giá sàn; phần chênh lệch vẫn biến động và không bù được bằng hợp đồng kỳ hạn. Ở Việt Nam, MXV niêm yết hợp đồng Cà phê Robusta ICE liên thông với ICE EU, cùng cỡ lô và tháng đáo hạn với sàn gốc. Theo ICE Futures Europe, hợp đồng Robusta kết thúc bằng giao hàng thật tại kho do sàn chỉ định ở châu Âu hoặc Mỹ. Phần này giải thích cơ chế, không khuyến nghị nông dân hay doanh nghiệp tham gia sàn.

Nắm đủ 4 chặng và các kiểu chốt giá, người đọc có thể tự đọc một bản tin giá mỗi sáng.

Làm thế nào để đọc một bản tin giá cà phê theo 4 chặng hình thành giá?

Đọc một bản tin giá cà phê theo 4 chặng nghĩa là lần lượt xem giá sàn và kỳ hạn, xem chênh lệch và giá xuất khẩu, xem tỷ giá quy đổi, rồi đối chiếu với giá thu mua đồng/kg. Ở mỗi bước, người đọc cần biết con số được lấy lúc nào và từ nguồn nào.

  1. Bản tin dẫn sàn nào, kỳ hạn nào, phiên ngày nào? Ghi lại tên sàn, tháng kỳ hạn và giờ cập nhật trước khi so sánh.
  2. Bản tin có nêu chênh lệch hoặc giá FOB không? Nếu không, giá sàn và giá thu mua chỉ nối với nhau qua phép tính như ở mục ví dụ.
  3. Tỷ giá lấy ở đâu, ngày nào? Dùng tỷ giá có nguồn và ngày rõ ràng để quy đổi giá sàn ra đồng/kg.
  4. Giá đồng/kg ở tỉnh nào, của nguồn nào, công bố lúc mấy giờ? Đối chiếu tên tỉnh với địa giới hiện hành, và xem câu nào là dự báo hay tin đồn, có ghi nguồn hay không.

Hai bản tin sáng 9 và 10/10/2026 cho thấy vì sao các bước này cần thiết. Bản tin sáng 9/10/2026 của Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập chia ba phần: Robusta London theo kỳ hạn, Arabica New York theo kỳ hạn và giá thu mua theo tỉnh, mỗi phần có giờ cập nhật. Bản tin sáng 10/10/2026 của Báo Lào Cai không ghi giờ khảo sát giá trong nước và không nêu nguồn giá.

Cùng sáng 10/10/2026, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập ghi Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 ở 3.470 USD/tấn, còn Báo Lào Cai ghi 3.423 USD/tấn. Cả hai bản tin đều không nêu chênh lệch hay giá FOB, và vẫn ghi tên tỉnh theo địa giới cũ như "Đắk Nông (cũ)".

Sơ đồ dưới đây gắn mỗi câu hỏi với một chặng trong 4 chặng đã nêu ở đầu bài.

Sơ đồ 4 bước đọc một bản tin giá cà phê ứng với 4 chặng hình thành giá
Sơ đồ: Đọc bản tin giá cà phê theo 4 chặng – Nguồn: Hỏa Tốc 24h tổng hợp

Giá cà phê đi từ sàn kỳ hạn, cộng trừ chênh lệch, quy ra đồng/kg rồi trừ chi phí tới tận vườn. Con số của từng buổi sáng có ở trang giá cà phê trong nước hôm nay, còn hai bước giữa được giải thích ở cách tính giá sàn cộng trừ chênh lệch và cách quy đổi giá sàn ra đồng/kg.