Bài dùng ba khái niệm xuyên suốt. Sản lượng được đo bằng bao 60 kg cà phê nhân xanh, tức hạt đã tách vỏ, làm khô nhưng chưa rang. Thị phần là sản lượng của một nước chia cho tổng sản lượng thế giới trong cùng một báo cáo. Niên vụ là kỳ 12 tháng mà mỗi nước dùng để tính một vụ cà phê, và các nước không bắt đầu niên vụ cùng một tháng.
Số liệu trong bài lấy theo USDA FAS (Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ), báo cáo Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026, trừ chỗ ghi nguồn khác.
Bảng xếp hạng 10 quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới
Mười nước sản xuất cà phê nhiều nhất được xếp hạng dưới đây theo dự báo niên vụ gần nhất của USDA FAS. Nhóm này làm ra khoảng 89,4% sản lượng toàn cầu. Trong đó, Brazil và Việt Nam giữ hai vị trí đầu và bỏ xa tám nước còn lại cả về số bao lẫn thị phần.
| Hạng | Quốc gia | Sản lượng (triệu bao 60 kg) | Quy ra tấn | Thị phần thế giới (%) | Loài chủ lực |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Brazil | 71,9 | 4.314.000 | 37,9 | Arabica, kèm Robusta (conilon) |
| 2 | Việt Nam | 32,5 | 1.950.000 | 17,1 | Robusta |
| 3 | Colombia | 13,4 | 804.000 | 7,1 | Arabica |
| 4 | Ethiopia | 12,1 | 726.000 | 6,4 | Arabica |
| 5 | Indonesia | 11,38 | 682.800 | 6,0 | Robusta |
| 6 | Uganda | 7,16 | 429.600 | 3,8 | Robusta |
| 7 | Ấn Độ | 6,14 | 368.400 | 3,2 | Robusta |
| 8 | Honduras | 6,03 | 361.800 | 3,2 | Arabica |
| 9 | Peru | 4,78 | 286.800 | 2,5 | Arabica |
| 10 | Mexico | 4,135 | 248.100 | 2,2 | Arabica |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; niên vụ 2026/27 (dự báo), mỗi nước tính theo niên vụ riêng; tra cứu ngày 10/10/2026. Cột tấn tính bằng số bao × 0,06. Thị phần tính trên tổng thế giới 189,667 triệu bao, làm tròn một chữ số thập phân. Từ hạng 7 trở xuống, thứ hạng có thể khác theo nguồn.
Riêng Brazil đã làm ra nhiều hơn tổng của tám nước từ hạng 3 đến hạng 10, vốn vào khoảng 65,1 triệu bao. Việt Nam hơn Colombia ở hạng ba 19,1 triệu bao, tức khoảng cách này còn lớn hơn cả sản lượng của Colombia.

Nước nào sản xuất cà phê nhiều nhất thế giới?
Brazil là nước sản xuất cà phê nhiều nhất thế giới, với khoảng 37,9% sản lượng toàn cầu theo dự báo của USDA FAS. Sản lượng của Brazil gấp khoảng 2,2 lần Việt Nam, nước đứng thứ hai. Theo USDA, sản lượng của Brazil tăng 8,9 triệu bao, tức 14%, chủ yếu vì Arabica (cà phê chè) phục hồi lên 47,5 triệu bao sau 5 năm sản lượng thấp hơn kỳ vọng.
Ba yếu tố giữ Brazil ở vị trí số một. Thứ nhất là diện tích: Conab, công ty cung ứng nông sản quốc gia của Brazil, ghi tổng diện tích cà phê khoảng 2,35 triệu ha trong kỳ khảo sát tháng 9/2026. Thứ hai, Brazil trồng cả Arabica lẫn conilon, tên gọi ở Brazil của Robusta (cà phê vối), và conilon đạt năng suất 50,2 bao/ha so với 30,8 bao/ha của Arabica. Thứ ba, báo cáo GAIN của USDA, tức báo cáo của tùy viên nông nghiệp Mỹ tại nước sở tại, mô tả ngành cà phê bang Bahia vận hành theo hệ thống cơ giới hóa cao.
Việt Nam chiếm bao nhiêu thị phần cà phê thế giới?
Việt Nam chiếm khoảng 17,1% sản lượng cà phê thế giới, đứng thứ hai sau Brazil, và là nước sản xuất Robusta lớn nhất thế giới theo bảng của USDA FAS. Robusta chiếm khoảng 96,6% sản lượng cà phê của Việt Nam. Ba con số dưới đây cho thấy vị trí của Việt Nam từ ba góc khác nhau.
- Thị phần sản lượng chung: khoảng 17,1%, tương đương 32,5 triệu bao hay 1,95 triệu tấn, theo USDA FAS kỳ tháng 7/2026.
- Thị phần trong riêng nhóm Robusta: khoảng 37,5%, tức 31,4 triệu bao trên tổng 83,8 triệu bao Robusta của thế giới, cùng nguồn.
- Diện tích trồng: theo hồ sơ quốc gia về cà phê Việt Nam của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), do Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) đăng ngày 08/04/2019, năm tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai và Kon Tum có khoảng 662.000 ha cà phê (số liệu năm 2017).
Cũng theo hồ sơ này, Robusta chiếm khoảng 92,9% diện tích và khoảng 97% sản lượng cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2013–2018. Sản lượng tập trung gần như toàn bộ ở Tây Nguyên. USDA ghi nhận sản lượng niên vụ mới của Việt Nam đạt mức kỷ lục, nhờ mở rộng diện tích và năng suất cao hơn.
Vì sao thứ hạng cuối bảng khác nhau giữa các nguồn?
Thứ hạng cuối bảng khác nhau vì USDA và ICO tính theo kỳ khác nhau, công bố vào thời điểm khác nhau và cho ra tổng sản lượng khác nhau. Các nước từ hạng 7 trở xuống lại có sản lượng sát nhau, nên chỉ cần chênh lệch nhỏ là đổi hạng.
| Tiêu chí | USDA FAS | ICO |
|---|---|---|
| Đơn vị | Nghìn bao 60 kg | Bao 60 kg |
| Kỳ tính | Niên vụ riêng của từng nước: Brazil từ tháng 7 đến tháng 6; Indonesia và Peru từ tháng 4 đến tháng 3; phần lớn nước còn lại từ tháng 10 đến tháng 9 | Năm cà phê từ ngày 1/10 đến ngày 30/9 |
| Nhịp công bố | Hai kỳ mỗi năm; kỳ hiện hành tháng 7/2026, kỳ sau ngày 16/12/2026 | Coffee Market Report hằng tháng |
| Sản lượng thế giới 2025/26 | 178,83 triệu bao (Arabica 94,44; Robusta 84,39) | 183,6 triệu bao (Arabica 104,4; Robusta 79,2) |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; ICO, Coffee Market Report tháng 9/2026; tra cứu ngày 10/10/2026.
Số liệu từng nước của USDA dựa trên báo cáo GAIN của tùy viên nông nghiệp tại nước đó, trong khi cơ quan trong nước có thể công bố số riêng. Với Brazil, USDA dự báo 71,9 triệu bao cho niên vụ tính từ tháng 7 đến tháng 6, còn Conab ước 67,6 triệu bao cho vụ tính theo năm dương lịch. Ở cuối bảng, Ấn Độ chỉ hơn Honduras 110 nghìn bao, tức khoảng 6.600 tấn, nên thứ hạng của Ấn Độ, Honduras, Peru, Mexico và Guatemala có thể khác theo nguồn.
Cách đọc an toàn là so các nước trong cùng một nguồn và cùng một kỳ báo cáo, không ghép số của hai nguồn vào một bảng.
Nước nào xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới?
Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, Việt Nam đứng thứ hai, theo bảng xuất khẩu cà phê hạt của USDA FAS. Năm vị trí đầu trùng với thứ hạng sản xuất. Ở nhóm cuối, thứ hạng xuất khẩu lệch đi vì một số nước giữ lại nhiều cà phê để tiêu dùng trong nước.
Theo dự báo của USDA FAS, Brazil xuất khẩu khoảng 45 triệu bao cà phê hạt, tức 2,7 triệu tấn. Việt Nam xuất khoảng 25,4 triệu bao, tức 1.524.000 tấn. Cà phê hạt ở đây là cà phê nhân xanh xuất khẩu, chưa tính cà phê rang xay và hòa tan. Ethiopia tiêu thụ trong nước khoảng 5 triệu bao trên sản lượng 12,1 triệu bao, còn Indonesia khoảng 4,83 triệu bao trên 11,38 triệu bao.
Ngoài cà phê hạt, thương mại thế giới còn có cà phê rang xay, dự báo 6,834 triệu bao, và cà phê hòa tan, dự báo 20,63 triệu bao, đều quy về lượng nhân xanh tương đương. Với các nước không trồng cà phê, USDA tính thương mại theo cán cân nhập trừ xuất để tránh tính trùng.
Thị phần xuất khẩu cà phê của các nước trên thế giới
Năm nước xuất khẩu lớn nhất nắm khoảng 73,6% lượng cà phê nhân xanh giao dịch trên thế giới theo USDA FAS. Riêng Brazil và Việt Nam chiếm khoảng 53,6% lượng này.
| Quốc gia | Xuất khẩu (triệu bao) | Quy ra tấn | Thị phần xuất khẩu (%) | Hạng sản xuất |
|---|---|---|---|---|
| Brazil | 45 | 2.700.000 | 34,2 | 1 |
| Việt Nam | 25,4 | 1.524.000 | 19,3 | 2 |
| Colombia | 12,2 | 732.000 | 9,3 | 3 |
| Ethiopia | 7,1 | 426.000 | 5,4 | 4 |
| Indonesia | 7,0 | 420.000 | 5,3 | 5 |
| Các nước còn lại | 34,71 | 2.082.600 | 26,4 | Từ hạng 6 trở xuống và các nước khác |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; xuất khẩu cà phê hạt (nhân xanh) niên vụ 2026/27, dự báo; tổng thế giới 131,41 triệu bao; tra cứu ngày 10/10/2026.
Chênh lệch giữa hai thứ hạng rõ nhất ở Ấn Độ. Nước này đứng hạng 7 về sản xuất nhưng chỉ xuất khẩu 3,68 triệu bao cà phê hạt, ít hơn Honduras (5,5 triệu bao) và Peru (4,25 triệu bao), là hai nước đứng sau về sản lượng. Với người mua ở EU, Mỹ, Nhật Bản hay Trung Quốc, mức tập trung này có nghĩa là hơn một nửa nguồn cà phê hạt đến từ hai nước.
ICO cho một góc nhìn khác. Theo báo cáo thị trường tháng 9/2026 của ICO, khối lượng cà phê nhân xanh xuất khẩu toàn cầu từ tháng 10/2025 đến tháng 8/2026 đạt 113,66 triệu bao, tăng 0,8%. Arabica chiếm 59,6% lượng này, lần đầu xuống dưới 60% sau 11 tháng đầu của một năm cà phê.

Việt Nam đứng ở đâu trong nhóm nước xuất khẩu cà phê?
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, sau Brazil, theo cả USDA FAS lẫn hồ sơ quốc gia của ICO. Theo USDA, Việt Nam xuất khẩu khoảng 25,1 triệu bao cà phê hạt trong niên vụ trước, và dự báo đạt 25,4 triệu bao trong niên vụ mới.
Số liệu của các cơ quan khác cũng cho thấy lượng xuất khẩu đang tăng. Theo ICO, xuất khẩu cà phê mọi dạng của Việt Nam từ tháng 10/2025 đến tháng 8/2026 đạt 30,34 triệu bao, tăng 19,5%. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết lượng cà phê xuất khẩu 9 tháng năm 2026 tăng 15,4%, nhưng kim ngạch giảm 7,3% vì giá xuất khẩu bình quân giảm. Số liệu này do Thứ trưởng Võ Văn Hưng công bố, đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 28/9/2026.
Các con số này không khớp nhau vì mỗi nguồn tính một kỳ và một loại hàng khác nhau. USDA tính cà phê hạt theo niên vụ từ tháng 10 đến tháng 9, ICO tính cà phê mọi dạng theo năm cà phê, còn Bộ tính theo các tháng của năm dương lịch. Theo hồ sơ của ICO, với số liệu giai đoạn 2013/14–2017/18, thị trường mua chính của cà phê Việt Nam là Đức, Mỹ, Ý, Tây Ban Nha và Nhật Bản.
Mỗi nước trong top 10 trồng chủ yếu Arabica hay Robusta?
Sáu trong mười nước sản xuất lớn nhất làm ra chủ yếu Arabica. Bốn nước còn lại làm ra chủ yếu Robusta, với Việt Nam dẫn đầu. Brazil là trường hợp riêng: nước này có sản lượng lớn ở cả hai loài, đủ để đứng thứ nhất thế giới về Arabica và thứ hai về Robusta theo USDA FAS.
| Quốc gia | Loài chủ lực | Tỷ trọng Robusta trong sản lượng (%) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Brazil | Arabica | 33,9 | Robusta ở Brazil gọi là conilon |
| Việt Nam | Robusta | 96,6 | Arabica khoảng 1,1 triệu bao |
| Colombia | Arabica | 0 | Toàn bộ sản lượng là Arabica |
| Ethiopia | Arabica | 0 | Toàn bộ sản lượng là Arabica |
| Indonesia | Robusta | 87,9 | Arabica khoảng 1,38 triệu bao |
| Uganda | Robusta | 84,1 | Arabica khoảng 1,135 triệu bao |
| Ấn Độ | Robusta | 74,6 | Trồng cả hai loài, Arabica khoảng 1,56 triệu bao |
| Honduras | Arabica | 0 | Toàn bộ sản lượng là Arabica |
| Peru | Arabica | 0 | Toàn bộ sản lượng là Arabica |
| Mexico | Arabica | 13,5 | Robusta khoảng 0,56 triệu bao |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; niên vụ 2026/27 (dự báo); tỷ trọng Robusta tính bằng sản lượng Robusta chia tổng sản lượng của nước đó; tra cứu ngày 10/10/2026.
Hai loài gắn với hai hợp đồng chuẩn khác nhau của sàn ICE. Arabica giao dịch trên hợp đồng Coffee "C" ở New York, Robusta trên hợp đồng Robusta ở London. Vì vậy bảng trên cũng cho biết sản lượng của mỗi nước được định giá chủ yếu theo sàn nào.
Những nước cạnh tranh trực tiếp với Robusta Việt Nam
Các nước cạnh tranh trực tiếp với Robusta Việt Nam là Brazil, Indonesia, Uganda và Ấn Độ. Danh sách dưới đây xếp theo sản lượng Robusta niên vụ 2026/27 của USDA FAS.
- Brazil: khoảng 24,4 triệu bao conilon, tức 1.464.000 tấn. Theo báo cáo GAIN Brazil ngày 01/06/2026, bang Espírito Santo có khoảng 70% diện tích Robusta của Brazil và cung cấp khoảng 20% nguồn Robusta thế giới, còn Bahia đã vượt Rondônia để thành bang sản xuất Robusta lớn thứ hai. Diễn biến của các vùng trồng này nằm ở trang cà phê conilon của Brazil.
- Indonesia: khoảng 10 triệu bao, tức 600.000 tấn. Theo USDA, sản lượng Robusta giảm vì mưa quá nhiều làm năng suất đi xuống.
- Uganda: khoảng 6,025 triệu bao, tức 361.500 tấn, tăng nhẹ so với 5,975 triệu bao của niên vụ trước.
- Ấn Độ: khoảng 4,58 triệu bao, tức 274.800 tấn, giảm so với 4,7 triệu bao của niên vụ trước.
Theo đặc tả hợp đồng của ICE Futures Europe, hợp đồng Robusta trên sàn London nhận Robusta của mọi xuất xứ được tự do xuất khẩu. Robusta Class 1 giao theo giá hợp đồng, các hạng khác giao theo mức cộng hoặc trừ định sẵn. Như vậy, hàng của bốn nước trên và của Việt Nam cùng được định giá theo một hợp đồng chuẩn. Ở phía mua, USDA dự báo các thị trường nhập khẩu lớn gồm EU khoảng 50 triệu bao, Mỹ 26,9 triệu bao, Nhật Bản 7 triệu bao và Trung Quốc 6,05 triệu bao.
Khi một nước trong nhóm được mùa hay mất mùa, tổng Robusta thế giới thay đổi theo. Ở niên vụ mới, phần tăng 0,9 triệu bao của Việt Nam không bù hết phần giảm của Indonesia (1 triệu bao) và Brazil (0,6 triệu bao). Vì vậy, tổng Robusta thế giới giảm từ 84,39 xuống 83,8 triệu bao theo USDA.
Những nước sản xuất cà phê Arabica chủ lực
Các nước sản xuất Arabica chủ lực là Brazil, Colombia, Ethiopia, Honduras và Peru, sau đó đến Mexico và Guatemala. Số liệu dưới đây là sản lượng Arabica niên vụ 2026/27 theo USDA FAS.
- Brazil: 47,5 triệu bao Arabica, lớn nhất thế giới, và là nguồn tăng chính của niên vụ mới.
- Colombia: 13,4 triệu bao, toàn bộ là Arabica.
- Ethiopia: 12,1 triệu bao, mức kỷ lục, nhờ giống năng suất cao đã thay hơn một nửa diện tích canh tác trong 4 năm.
- Honduras: 6,03 triệu bao, tăng 500.000 bao, đóng góp phần lớn vào mức phục hồi của Trung Mỹ và Mexico.
- Peru: 4,78 triệu bao, toàn bộ là Arabica.
- Mexico và Guatemala: lần lượt 3,575 và 3,13 triệu bao Arabica.
Thứ tự của các nước cuối nhóm có thể khác theo nguồn. Theo USDA, sản lượng của Trung Mỹ và Mexico dự báo tăng gần 600.000 bao, lên 17,7 triệu bao. Xuất khẩu của khu vực này dự báo tăng gần 400.000 bao, lên 14 triệu bao. Nhóm Arabica là nguồn hàng chính của hợp đồng Coffee "C" trên sàn New York, nơi giá được cộng hoặc trừ theo xuất xứ.
Lịch thu hoạch cà phê: khi nào nguồn cung đổ ra thị trường?
Các nước sản xuất lớn thu hoạch vào những thời điểm khác nhau trong năm. Hàng mới của Brazil ra chủ yếu vào giữa năm. Mùa cà phê của Việt Nam bắt đầu từ tháng 10, trùng với vụ chính của Colombia. Vì vậy, nguồn cung thế giới đổ ra thị trường theo hai đợt lớn.
| Niên vụ theo USDA | Các nước trong top 10 |
|---|---|
| Từ tháng 7 đến tháng 6 | Brazil |
| Từ tháng 4 đến tháng 3 | Indonesia, Peru |
| Từ tháng 10 đến tháng 9 | Việt Nam, Colombia, Ethiopia, Uganda, Ấn Độ, Honduras, Mexico |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; tra cứu ngày 10/10/2026.
Lịch thu hoạch của ba nước có số liệu theo tháng từ cơ quan chính thức như sau:
- Brazil: theo Conab, vụ gần nhất bắt đầu thu hoạch khoảng tháng 3–4, cao điểm vào tháng 6 và tháng 7, gần xong vào cuối tháng 8. Đến kỳ ước tính tháng 9, 99% diện tích đã thu hoạch. Báo cáo GAIN Brazil ghi vụ này khởi động chậm từ tháng 4 rồi tăng tốc từ giữa tháng 5.
- Việt Nam: theo hồ sơ quốc gia của ICO, mùa cà phê bắt đầu ngày 1/10, lúc mùa mưa ở miền Nam kết thúc.
- Colombia: theo Cenicafé, viện nghiên cứu của Liên đoàn Cà phê Quốc gia Colombia, vụ chính bắt đầu tháng 8, cao điểm từ tháng 9 và giảm mạnh vào tháng 12. Vụ phụ, gọi là traviesa hay mitaca, thường từ tháng 3 đến tháng 5. Tháng 6–7 và tháng 1–2 mỗi giai đoạn chỉ thu dưới 5% sản lượng năm.
Ghép ba lịch này lại, quý cuối năm là lúc Việt Nam vào mùa trong khi Colombia vẫn đang thu vụ chính. Tháng 3 đến tháng 5 có vụ phụ của Colombia và đợt đầu của Brazil, còn tháng 6–7 là cao điểm của Brazil. Khi đọc tin mùa vụ, người trồng và đại lý có thể đối chiếu tin với giai đoạn vụ của nước được nhắc đến. Lịch có thể xê dịch theo năm: riêng vụ gần nhất của Brazil, Conab và USDA đã ghi thời điểm khởi động khác nhau vài tuần.

Sản lượng cà phê toàn cầu theo niên vụ
Sản lượng cà phê toàn cầu được tính theo niên vụ và đo bằng bao 60 kg nhân xanh. Mục này dùng báo cáo Coffee: World Markets and Trade kỳ tháng 7/2026 của USDA FAS. Nội dung gồm sản lượng niên vụ 2026/27, cân đối cung cầu, cách đọc niên vụ, cách đọc bao 60 kg và các tin mùa vụ mới nhất.
Nguồn mục này: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; kỳ kế tiếp dự kiến công bố ngày 16/12/2026.
Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2026/27
USDA FAS dự báo sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2026/27 đạt 189,7 triệu bao, tức khoảng 11,38 triệu tấn. Mức này tăng 6,1% so với niên vụ 2025/26 và là mức kỷ lục.
| Chỉ tiêu | Niên vụ 2025/26 (triệu bao) | Niên vụ 2026/27, dự báo (triệu bao) | Thay đổi (%) |
|---|---|---|---|
| Thế giới | 178,83 | 189,667 | +6,1 |
| Arabica | 94,44 | 105,867 | +12,1 |
| Robusta | 84,39 | 83,8 | −0,7 |
| Brazil và Việt Nam gộp | 94,7 | 104,4 | +10,2 |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; số 2025/26 là ước tính đã điều chỉnh, số 2026/27 là dự báo; tra cứu ngày 10/10/2026.
Arabica tăng mạnh, trong khi Robusta giảm nhẹ. Brazil đóng góp 8,9 triệu bao, khoảng 82% mức tăng 10,8 triệu bao của thế giới. Colombia phục hồi lên 13,4 triệu bao, sau khi niên vụ trước bị hạ xuống 12,5 triệu bao vì mưa quá nhiều. Theo USDA, sản lượng kỷ lục ở Brazil, Ethiopia, Uganda và Việt Nam đủ bù phần giảm ở Ấn Độ và Indonesia.
Số 2026/27 là dự báo của kỳ tháng 7, còn số 2025/26 là ước tính đã được điều chỉnh trong cùng kỳ. Kỳ báo cáo sau, dự kiến ra ngày 16/12/2026, có thể điều chỉnh cả hai con số.

Cung cầu cà phê thế giới niên vụ 2026/27 dư thừa hay thiếu hụt?
Tính từ số liệu của USDA FAS, niên vụ 2026/27 thế giới dư thừa khoảng 9,9 triệu bao, vì sản lượng dự báo lớn hơn tiêu thụ dự báo. Tiêu thụ cũng đạt mức kỷ lục, khoảng 179,7 triệu bao.
| Chỉ tiêu (niên vụ 2026/27) | Triệu bao | Quy ra tấn |
|---|---|---|
| Sản lượng | 189,667 | 11.380.020 |
| Tiêu thụ | 179,736 | 10.784.160 |
| Xuất khẩu cà phê hạt | 131,41 | 7.884.600 |
| Tồn kho cuối kỳ | 26,283 | 1.576.980 |
| Chênh lệch sản lượng trừ tiêu thụ | 9,931 | 595.860 |
Nguồn: USDA FAS, Coffee: World Markets and Trade, kỳ tháng 7/2026; số dự báo; dòng chênh lệch do Hỏa Tốc 24h tính từ hai dòng đầu; tra cứu ngày 10/10/2026.
Tồn kho cuối kỳ là lượng cà phê còn lại khi niên vụ khép lại. Chỉ tiêu này tăng năm thứ hai liên tiếp, từ 24,37 lên 26,28 triệu bao. Tuy vậy, theo USDA, mức này vẫn dưới trung bình dài hạn, sau khi tồn kho đã giảm 15,5 triệu bao từ 2020/21 đến 2024/25. ICO, với kỳ tính khác, ước năm cà phê 2025/26 dư khoảng 3 triệu bao sau 4 năm thiếu hụt, và ghi rằng mức dư này chưa bằng một tuần tiêu thụ toàn cầu.
Niên vụ cà phê thế giới tính từ tháng mấy đến tháng mấy?
ICO tính năm cà phê từ ngày 1/10 năm trước đến ngày 30/9 năm sau. USDA thì cộng niên vụ riêng của từng nước sản xuất, nên niên vụ thế giới của USDA không bắt đầu cùng một tháng ở mọi nước. Ba nước lớn có lịch như sau:
- Brazil: từ tháng 7 đến tháng 6; niên vụ 2026/27 chạy từ tháng 7/2026 đến tháng 6/2027.
- Việt Nam: từ tháng 10 đến tháng 9.
- Colombia: từ tháng 10 đến tháng 9.
Vì vậy, cùng một nhãn "2026/27" có thể chứa những vụ thu hoạch rơi vào các tháng khác nhau, và tổng của hai nguồn lệch nhau như bảng so sánh USDA với ICO ở trên. Conab còn báo cáo vụ Brazil theo năm dương lịch, khác cả hai cách tính này.
Bao cà phê 60 kg trong số liệu sản lượng là gì?
Bao 60 kg là đơn vị đo chuẩn của ngành cà phê. Mỗi bao bằng 60 kg cà phê nhân xanh, nên 1 triệu bao bằng 60.000 tấn. USDA ghi số liệu theo nghìn bao 60 kg, ICO ghi theo bao 60 kg, còn Conab của Brazil cũng đo sản lượng bằng bao 60 kg cà phê nhân.
Công thức quy đổi: số tấn = số bao × 0,06. Ví dụ, 32,5 triệu bao của Việt Nam tương đương 1,95 triệu tấn, và 189,7 triệu bao của thế giới tương đương khoảng 11,38 triệu tấn. Một hợp đồng Robusta 10 tấn trên sàn London tương đương khoảng 167 bao.
Cà phê rang và hòa tan được quy về lượng nhân xanh tương đương. USDA nhân cà phê rang với hệ số 1,19 và cà phê hòa tan với hệ số 2,6. Báo cáo GAIN gọi đơn vị này là bao quy nhân xanh (GBE).
Tin mùa vụ mới nhất tại các nước sản xuất cà phê lớn
Tại thời điểm biên soạn, tin mùa vụ đáng chú ý nhất là Brazil đã gần hoàn tất vụ thu hoạch kỷ lục, theo ước tính tháng 9/2026 của Conab. Các tin dưới đây đều đến từ cơ quan chính thức.
- Brazil: ngày 24/9/2026, Conab nâng ước tính vụ 2026 lên mức kỷ lục 67,6 triệu bao. Theo báo cáo thị trường tháng 9/2026 của ICO, mưa trong lúc thu hoạch ảnh hưởng chất lượng hạt, còn mưa tháng 9 hỗ trợ cây ra hoa.
- Trung Mỹ: báo cáo tháng 9/2026 của ICO ghi nhận cảnh báo hạn hán ở Honduras và Nicaragua.
- Indonesia: USDA FAS, kỳ tháng 7/2026, dự báo sản lượng niên vụ 2026/27 giảm 1 triệu bao vì mưa quá nhiều làm giảm năng suất Robusta.
- El Niño (dự báo): El Niño là hiện tượng nước bề mặt vùng xích đạo Thái Bình Dương ấm lên bất thường. Bản tin ENSO ngày 10/9/2026 của Trung tâm Dự báo Khí hậu thuộc NOAA (Mỹ) dự báo El Niño đang mạnh lên, với xác suất trên 90% thành một đợt rất mạnh trong mùa thu và mùa đông 2026–27 ở Bắc bán cầu.
Brazil: cường quốc cà phê số một ở cả Arabica lẫn Robusta
Brazil đứng hạng 1 trong bảng xếp hạng và làm ra sản lượng lớn ở cả Arabica lẫn conilon. Theo báo cáo GAIN của USDA, Arabica chiếm khoảng 81% diện tích, còn conilon tập trung ở Espírito Santo, Bahia và Rondônia. Diện tích, năng suất và vụ thu hoạch của nước này được trình bày ở trang cà phê Brazil.
Colombia: thủ phủ cà phê Arabica của Nam Mỹ
Colombia đứng hạng 3 và toàn bộ sản lượng là Arabica, theo USDA FAS. Nước này thu hai vụ mỗi năm, và cà phê Colombia được cộng 1.000 điểm trên hợp đồng Coffee "C" của sàn New York. Vụ mùa, vùng trồng và xuất khẩu được trình bày ở trang cà phê Colombia.
Indonesia: đối thủ Robusta của Việt Nam tại Đông Nam Á
Indonesia đứng hạng 5 và là nước làm ra Robusta nhiều thứ ba thế giới, sau Việt Nam và Brazil, theo USDA FAS. Niên vụ của Indonesia tính từ tháng 4 đến tháng 3, lệch với niên vụ của Việt Nam. Diễn biến sản lượng của nước này được trình bày ở trang cà phê Indonesia.
Cà phê được trồng ở những nước nào ngoài top 10?
Ngoài top 10, cà phê còn được trồng ở nhiều nước Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á – Thái Bình Dương. Bảng tổng sản lượng của USDA FAS nêu tên 25 nước, cùng một dòng gộp các nước khác. Nhóm ngoài top 10 làm ra khoảng 20,1 triệu bao, tức khoảng 10,6% sản lượng thế giới.
- Mỹ Latinh: Guatemala (3,26 triệu bao) và Nicaragua (2,44 triệu bao) theo dự báo của USDA; Costa Rica, Panama; ngoài ra ICE Futures U.S. còn nhận cà phê El Salvador, Ecuador, Venezuela và Cộng hòa Dominica trên hợp đồng Coffee "C".
- Châu Phi: Tanzania (1,6 triệu bao) và Bờ Biển Ngà (1,3 triệu bao) theo USDA; Kenya, Burundi và Rwanda có tên trong danh sách xuất xứ của hợp đồng Coffee "C".
- Châu Á – Thái Bình Dương: Papua New Guinea (0,8 triệu bao) và Lào (0,5 triệu bao) theo USDA.
Các số trên là dự báo niên vụ 2026/27 trong cùng báo cáo với bảng xếp hạng. Sản lượng của nhóm này nhỏ và sát nhau, nên thứ hạng giữa các nước có thể khác theo nguồn.

Vì sao giá cà phê phụ thuộc vào vài nước sản xuất lớn?
Giá cà phê phụ thuộc vào vài nước sản xuất lớn vì nguồn cung thế giới tập trung ở Brazil và Việt Nam, rồi đến Colombia, Ethiopia và Indonesia. Theo bảng của USDA FAS, năm nước này làm ra khoảng 74,5% sản lượng toàn cầu. Khi sản lượng ở một nước thay đổi, lượng hàng của cả thế giới thay đổi theo.
- Tin mùa vụ đi vào giá của hai hợp đồng chuẩn. Hợp đồng tương lai là cam kết mua bán một lượng hàng theo chuẩn của sàn vào một tháng giao định trước. Sàn London (ICE Futures Europe) giao dịch hợp đồng Robusta 10 tấn, giá tính bằng USD/tấn. Sàn New York (ICE Futures U.S.) giao dịch hợp đồng Coffee "C" cho Arabica, mỗi hợp đồng 37.500 pound, giá tính bằng cent/pound. Tin về lượng hàng của nước lớn vì thế được phản ánh vào giá các tháng giao này.
- Tồn kho được chứng nhận cho biết lượng hàng sẵn sàng giao trên sàn. Đây là cà phê đã được kiểm hạng, nếm thử và cấp chứng nhận, nằm trong kho do sàn cấp phép. Theo ICO, tồn kho Arabica được chứng nhận trên ICE là 217.646 bao ngày 15/9/2026, thấp nhất kể từ năm 1999, rồi lên 260.654 bao ngày 30/9/2026.
- Xuất xứ được cộng hoặc trừ theo bảng của sàn. Trên hợp đồng Coffee "C", điểm là đơn vị chênh lệch so với giá hợp đồng: cà phê Colombia được cộng 1.000 điểm, Guatemala cộng 500 điểm, Ấn Độ trừ 100 điểm và Brazil trừ 600 điểm. Theo đặc tả của ICE Futures U.S., cà phê Việt Nam được giao trên hợp đồng này với mức trừ 600 điểm, áp dụng từ kỳ đáo hạn tháng 5/2027.
USDA dùng chỉ số giá tổng hợp hằng tháng của ICO (ICO Composite Indicator Price) để theo dõi xu hướng giá cà phê thế giới. Mục này chỉ giải thích cơ chế, không nêu xu hướng giá.
Thứ hạng các nước sản xuất cà phê thay đổi ra sao qua các thập kỷ?
Thay đổi lớn nhất là Việt Nam đi từ một nước sản xuất nhỏ lên hạng hai, sau Brazil. Theo hồ sơ quốc gia của ICO, Việt Nam lên vị trí này trong khoảng cuối thập niên 1990 đến đầu những năm 2000. Brazil vẫn giữ hạng nhất ở niên vụ mới nhất, còn châu Mỹ vẫn là châu lục trồng nhiều cà phê nhất.
| Mốc | Sản lượng cà phê Việt Nam |
|---|---|
| 1986 | Khoảng 18.400 tấn (hơn 300.000 bao) |
| Đầu thập niên 1990 | Dưới 2 triệu bao mỗi năm |
| 2000 | Khoảng 900.000 tấn |
| 2013 | 1.381 nghìn tấn |
| 2017 | 1.529 nghìn tấn |
Nguồn: ICO, Country Coffee Profile: Vietnam, VICOFA đăng ngày 08/04/2019; tra cứu ngày 10/10/2026.
Từ khoảng 18.400 tấn năm 1986 lên 1.529 nghìn tấn năm 2017, sản lượng cà phê Việt Nam tăng khoảng 83 lần trong ba thập kỷ. Hồ sơ của ICO gắn bước tăng này với cải cách Đổi mới năm 1986, khi tư nhân được phép kinh doanh. Đến niên vụ mới nhất, sản lượng Việt Nam đạt mức kỷ lục như bảng xếp hạng ở đầu bài.

Xét theo châu lục, Hỏa Tốc 24h tính từ bảng USDA FAS kỳ tháng 7/2026. Riêng bảy nước châu Mỹ có tên trong bảng là Brazil, Colombia, Honduras, Peru, Mexico, Guatemala và Nicaragua đã làm ra khoảng 55,9% sản lượng thế giới niên vụ 2026/27. Bốn nước châu Á là Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ và Lào chiếm khoảng 26,6%. Bốn nước châu Phi là Ethiopia, Uganda, Tanzania và Bờ Biển Ngà chiếm khoảng 11,7%. Trong 5 niên vụ gần nhất, tổng sản lượng thế giới theo USDA tăng từ 164,5 lên 189,7 triệu bao, tức khoảng 15,3%.
Top 10 hiện do Brazil và Việt Nam dẫn đầu với khoảng cách lớn, còn thứ hạng của các nước cuối bảng có thể khác theo nguồn và kỳ báo cáo. Diễn biến riêng của ba nước lớn được theo dõi ở các trang ngành cà phê Brazil, vụ mùa cà phê Colombia và Robusta Indonesia.
