Bốn thuộc tính giúp nhận diện mặt hàng này. Về dạng hàng, đó là trái nguyên quả còn vỏ gai. Về trạng thái, trái ở dạng tươi, chưa qua kho cấp đông. Về điều kiện, hàng đi chính ngạch sang Trung Quốc phải theo nghị định thư ký năm 2022 và xuất phát từ vườn trồng, cơ sở đóng gói có tên trong danh sách được phía Trung Quốc công bố. Về thống kê, mã HS là mã phân loại hàng hóa dùng chung khi khai hải quan; số liệu được đếm bằng tấn và USD, và bài quy ra đồng theo tỷ giá trung tâm 25.629 đồng/USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 10/10/2026.
Sầu riêng tươi xuất khẩu là trái nguyên quả chưa qua cấp đông
Sầu riêng tươi xuất khẩu là trái nguyên quả còn vỏ, chưa qua cấp đông, bán ra nước ngoài ở dạng tươi và phải tiêu thụ trong thời gian ngắn sau thu hoạch. Đầu năm 2026, nhiều container nằm chờ ở cửa khẩu đã có trái bị nứt cuống và mất giá, theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 21/5/2026. Vì vậy, câu hỏi sầu riêng tươi xuất khẩu là gì luôn gắn với thời gian vận chuyển.
So với trái bán trong nước, hàng xuất khẩu phải qua khâu phân loại tại cơ sở đóng gói, được đóng thùng và mang thông tin truy xuất nguồn gốc trên bao bì, theo yêu cầu của nghị định thư năm 2022. Sầu riêng đông lạnh là hàng đã qua cấp đông và đi theo một nghị định thư riêng ký năm 2024; phần so sánh chi tiết nằm ở mục hỏi đáp cuối bài. Năm 2025, Việt Nam xuất gần 1 triệu tấn sầu riêng tươi và 117.000 tấn sầu riêng đông lạnh, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp ngày 10/8/2026. Như vậy hàng tươi chiếm gần 90% khối lượng sầu riêng xuất khẩu.
- Dạng sản phẩm: trái nguyên quả còn vỏ, chưa cấp đông, đóng trong thùng carton, ví dụ thùng 10 kg và 18 kg của lô thí điểm qua cửa khẩu ngày 10/4/2026.
- Điều kiện xuất khẩu: vườn trồng và cơ sở đóng gói phải có tên trong danh sách gửi Tổng cục Hải quan Trung Quốc, kèm yêu cầu kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm.
- Cách thống kê: hải quan ghi nhận hàng tươi theo phân nhóm 0810.60, tách khỏi hàng đông lạnh thuộc nhóm 08.11.

Không phải trái nào cũng thành hàng xuất khẩu, và giống là điều kiện đầu tiên.
Những giống sầu riêng tươi được xuất khẩu nhiều
Dona, còn gọi là Monthong hay sầu riêng Thái, và Ri6 là hai giống chính ở Đồng Nai, theo Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai ngày 30/6/2026. Tại Hợp tác xã Xuân Bắc ở Đồng Nai, với khoảng 51 ha sầu riêng, Dona chiếm hơn 70% diện tích. Khoảng cách giá giữa hai giống đã nới rộng: năm 2026, giá Dona cao gấp 2–3 lần giá Ri6, trong khi trước đó Dona thường chỉ cao hơn 10.000–20.000 đồng/kg.
| Giống | Giá tại vườn tham khảo | Nơi và thời điểm | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Monthong (Dona) loại A | 80.000–85.000 đồng/kg | Miền Tây và miền Đông, ngày 21/5/2026 | Cổng Thông tin điện tử Chính phủ |
| Dona (Monthong) | 70.000–80.000 đồng/kg, có lúc tới 90.000 đồng/kg | Đồng Nai, tháng 6/2026 | Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai |
| Ri6 đạt chuẩn xuất khẩu | Nhỉnh hơn 30.000 đồng/kg | Đồng Nai, tháng 6/2026 | Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai |
Đúng giống mới là điều kiện đầu; muốn đi chính ngạch, lô hàng còn phải qua nhiều điều kiện khác.
Điều kiện để sầu riêng tươi được xuất khẩu chính ngạch
Sầu riêng tươi đi chính ngạch sang Trung Quốc phải đáp ứng ba nhóm điều kiện: tuân thủ nghị định thư giữa hai nước, có mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được phía Trung Quốc chấp thuận, và đạt yêu cầu kiểm dịch thực vật cùng an toàn thực phẩm. Chính ngạch là kênh xuất khẩu chính thức, khai báo hải quan đầy đủ theo thỏa thuận giữa hai nước.
- Nghị định thư: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan ký văn bản này ngày 11/7/2022 sau khoảng 4 năm đàm phán, theo Cục Bảo vệ thực vật; nội dung chính được trình bày ở trang nghị định thư sầu riêng với Trung Quốc.
- Mã số: chỉ vườn trồng và cơ sở đóng gói có tên trong danh sách gửi Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC, cơ quan quản lý hàng nhập khẩu của Trung Quốc) mới được xuất hàng; cách cấp mã thuộc trang mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.
- Kiểm dịch và an toàn thực phẩm: lô hàng phải sạch các đối tượng kiểm dịch như ruồi đục quả Bactrocera correcta và rệp sáp, đồng thời không vượt mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép; ngưỡng cụ thể nằm ở trang tiêu chuẩn sầu riêng tươi xuất khẩu.
Trái không qua được các điều kiện này rời khỏi kênh chính ngạch và thường chỉ bán được với giá thấp hơn trong nước. Lô hàng đạt điều kiện được hải quan ghi nhận theo một mã riêng.
Mã HS 0810.60 và cách thống kê sầu riêng tươi xuất khẩu
Hải quan thống kê sầu riêng tươi theo mã HS 0810.60, tách khỏi sầu riêng đông lạnh thuộc nhóm 08.11. Vì vậy, số "sầu riêng tươi" và số "sầu riêng nói chung" trên báo chí là hai con số khác nhau. Hệ thống mã HS do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) quản lý và được các nước dùng chung. Trong Danh mục HS 2022 của WCO, nhóm 08.10 gồm các loại quả tươi khác, phân nhóm 0810.60 dành riêng cho sầu riêng, còn nhóm 08.11 gồm quả đã đông lạnh.
| Dạng hàng | Mã HS | Nội dung mã theo WCO | Nơi công bố số liệu |
|---|---|---|---|
| Sầu riêng tươi | 0810.60 | Phân nhóm "Durians" trong nhóm 08.10, quả tươi | Cục Hải quan (phía xuất), Hải quan Trung Quốc (phía nhập) |
| Sầu riêng đông lạnh | Nhóm 08.11 | Quả và quả hạch đã đông lạnh, chưa nấu chín hoặc đã hấp, luộc chín trong nước | Cục Hải quan (phía xuất), Hải quan Trung Quốc (phía nhập) |
Số liệu sầu riêng lệch nhau giữa các nguồn vì bốn lý do chính:
- Có nguồn gộp hàng tươi với hàng đông lạnh, như số trên 2,7 tỷ USD của Cục Hải quan cho 8 tháng/2026.
- Có nguồn đặt sầu riêng trong nhóm lớn hơn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu sầu riêng chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu ngành trồng trọt (họp báo ngày 3/9/2026), còn Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 21/5/2026 ghi khoảng 45–50% kim ngạch rau quả.
- Số ước tính khác số chính thức: cùng kỳ 8 tháng/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước đạt 1,95 tỷ USD, thấp hơn số của Cục Hải quan khoảng 0,75 tỷ USD.
- Số phía Việt Nam ghi lúc hàng xuất đi, còn số của hải quan Trung Quốc ghi lúc hàng nhập vào, nên hai bên khác thời điểm ghi nhận và khác điều kiện tính giá.
Hiểu cách đếm rồi mới đọc đúng số liệu mới nhất.
Tình hình xuất khẩu sầu riêng tươi mới nhất
Theo Cục Hải quan, 8 tháng/2026 Việt Nam xuất khẩu trên 2,7 tỷ USD sầu riêng, tăng 52% so với cùng kỳ 2025; đây là số gộp hàng tươi và hàng đông lạnh. Riêng tháng 8/2026, kim ngạch đạt 956 triệu USD, tăng 62%. Bảng dưới đây gom các chỉ số chính tính đến tháng 8/2026, mỗi dòng ghi nguồn và kỳ số liệu.
| Chỉ số | Giá trị | So sánh | Nguồn | Thời điểm |
|---|---|---|---|---|
| Kim ngạch sầu riêng lũy kế (gộp tươi và đông lạnh) | Trên 2,7 tỷ USD, khoảng 69.200 tỷ đồng | Tăng 52% so với cùng kỳ 2025 | Cục Hải quan | 8 tháng/2026 |
| Kim ngạch sầu riêng lũy kế, ước tính | 1,95–1,97 tỷ USD, khoảng 49.980–50.490 tỷ đồng | Tăng 28,3% (theo mức 1,97 tỷ USD) | Bộ Nông nghiệp và Môi trường | 8 tháng/2026, nêu ngày 3/9 và 28/9/2026 |
| Kim ngạch sầu riêng trong tháng | 956 triệu USD, khoảng 24.500 tỷ đồng | Tăng 62% so với tháng 8/2025 | Cục Hải quan | Tháng 8/2026 |
| Khối lượng sầu riêng tươi xuất khẩu | Gần 1 triệu tấn | Hàng đông lạnh: 117.000 tấn | Bộ Nông nghiệp và Môi trường | Năm 2025, nêu ngày 10/8/2026 |
| Giá nhập bình quân hàng Việt Nam tại Trung Quốc (trị giá chia khối lượng) | Khoảng 3.663 USD/tấn, khoảng 93.900 đồng/kg | Hàng Thái Lan: khoảng 4.319 USD/tấn | Hải quan Trung Quốc qua Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương); Hỏa Tốc 24h tính | 11 tháng/2025, công bố ngày 10/1/2026 |
| Tỷ trọng thị trường Trung Quốc | Khoảng 95% (1,85 tỷ USD trong 1,95 tỷ USD, ước tính) | Cục Hải quan: 2,58 tỷ USD sang Trung Quốc, tăng 59% | Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Cục Hải quan | 8 tháng/2026 |
| Nhập khẩu sầu riêng của Trung Quốc | 1,868 triệu tấn, 7,49 tỷ USD (khoảng 191.960 tỷ đồng) | Năm 2024: 1,56 triệu tấn, 6,99 tỷ USD (khoảng 179.150 tỷ đồng) | Hải quan Trung Quốc | Năm 2025 |
| Kim ngạch năm 2026 (mục tiêu) | Ít nhất 3,85 tỷ USD, có thể khoảng 4 tỷ USD (khoảng 98.670–102.520 tỷ đồng) | Năm 2025 đạt 3,85 tỷ USD | Bộ Nông nghiệp và Môi trường, họp báo Chính phủ | Nêu ngày 3/9/2026 |
Các số đồng được quy đổi theo tỷ giá trung tâm 25.629 đồng/USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 10/10/2026. Số của Cục Hải quan được dùng làm số chính; số ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thấp hơn khoảng 0,75 tỷ USD, và cách đọc chênh lệch này đã nêu ở phần mã HS. Phía sau tổng số là nhịp theo quý và cơ cấu sản lượng.
Kim ngạch và sản lượng sầu riêng tươi theo số liệu mới nhất
Kim ngạch tăng mạnh từ quý 2 và dồn về những tháng cuối mùa thu hoạch. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ngày 4/8/2026, quý 2/2026 đạt 863 triệu USD, gấp gần 3,9 lần quý 1. Lấy tổng 6 tháng là 1,085 tỷ USD trừ đi quý 2, quý 1 còn khoảng 222 triệu USD. Riêng tháng 8/2026, kim ngạch theo Cục Hải quan đạt 956 triệu USD, cao hơn cả quý 2.
Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng theo quý năm 2026
Xem số liệu
| Đơn vị: triệu USD | Giá trị |
|---|---|
| Quý 1/2026 | 222 |
| Quý 2/2026 | 863 |
Tháng 8 trùng với cao điểm thu hoạch ở Tây Nguyên, vùng chiếm khoảng một nửa diện tích sầu riêng cả nước, theo Báo Nông nghiệp và Môi trường ngày 4/8/2026. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết 7 tháng đầu năm 2026 cả nước thu hoạch 768.000 tấn, còn 5 tháng cuối năm dự kiến khoảng 1,3 triệu tấn. Như vậy khoảng 63% sản lượng năm nay dồn vào 5 tháng cuối.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), dự báo mỗi tháng từ tháng 8 đến tháng 10/2026 xuất khẩu gần 1 tỷ USD; số tháng 8 của Cục Hải quan sát mức dự báo này. Khi hàng dồn về nhiều, khối lượng thường tăng nhanh hơn kim ngạch và giá bình quân đi xuống; mục hỏi đáp cuối bài giải thích cơ chế này. Số lượng đã rõ, câu hỏi tiếp theo là hàng đi đâu.
Sầu riêng tươi Việt Nam đang bán sang những thị trường nào
Trung Quốc chiếm khoảng 95% kim ngạch sầu riêng của Việt Nam trong 8 tháng/2026, theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các thị trường còn lại chỉ chiếm phần nhỏ. Riêng hàng tươi, Trung Quốc chiếm hơn 90% kim ngạch, theo VOV ngày 7/1/2026. Bảng dưới đây dùng số sầu riêng nói chung của Cục Hải quan, đã gộp hàng tươi và hàng đông lạnh.
| Thị trường | Kim ngạch 8 tháng/2026 | So với cùng kỳ | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| Trung Quốc | 2,58 tỷ USD (khoảng 66.120 tỷ đồng) | Tăng 59% | Xuất chính ngạch theo nghị định thư năm 2022 |
| Mỹ | 18,3 triệu USD (khoảng 469 tỷ đồng) | Tăng 11% | Đã nhận hàng |
| Nhật Bản | 5 triệu USD (khoảng 128 tỷ đồng) | Tăng 16,7% | Đã nhận hàng |
| Hàn Quốc | 3,4 triệu USD (khoảng 87 tỷ đồng) | Tăng 223% | Đã nhận hàng |
Riêng tháng 8/2026, hàng sang Trung Quốc đạt 935 triệu USD, tăng 63,5%. Sầu riêng Việt Nam đã có mặt ở hơn 20 quốc gia, theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 10/8/2026. Về thị trường mới, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết tại họp báo Chính phủ ngày 3/9/2026: "Tháng 7 vừa rồi, phía Ấn Độ đã đồng ý cho Việt Nam xuất khẩu sầu riêng sang Ấn Độ." Úc và New Zealand đang được đàm phán mở cửa.
Danh sách người mua lớn trên thế giới nằm ở trang các nước nhập khẩu sầu riêng lớn, còn đường đi của hàng sang thị trường chính thuộc trang xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc. Bán ở đâu đã rõ, câu hỏi tiếp theo là giá được định ra sao.
Giá sầu riêng tươi xuất khẩu được hình thành thế nào
Giá sầu riêng tươi xuất khẩu hình thành qua bốn khâu: nhà vườn, vựa, cơ sở đóng gói và nhà nhập khẩu. Mỗi khâu cộng thêm chi phí và rủi ro của mình. Vì phần lớn hàng bán sang Trung Quốc, giá bán ở thị trường này là mốc để các khâu phía trước tính ngược ra giá mua tại vườn. Khi giá ở Trung Quốc giảm, mức giảm truyền về tới nhà vườn.
Chuỗi giá từ nhà vườn, vựa, cơ sở đóng gói tới nhà nhập khẩu
Một trái sầu riêng tươi đi qua ít nhất bốn mắt xích trước khi tới chợ đầu mối Trung Quốc. Giá thu mua tại vườn thường được tính ngược từ giá bán dự kiến tại Trung Quốc, trừ đi chi phí của từng khâu.
- Nhà vườn bán cho thương lái theo giá bao vườn hoặc bán cho doanh nghiệp. Theo ông Trương Bảo, thương lái ở phía đông Đồng Nai, Dona đạt chuẩn xuất khẩu đầu vụ năm 2026 lên tới 90.000 đồng/kg, giữa vụ giá bao vườn còn khoảng 65.000 đồng/kg (Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai, 30/6/2026).
- Vựa và thương lái gom trái về điểm tập kết, nơi doanh nghiệp xuất khẩu mua lại tới 78.000 đồng/kg. Phần chênh khoảng 13.000 đồng/kg, tức khoảng 20% so với giá bao vườn, là khoản khâu gom hàng nhận để bù chi phí và có lãi.
- Cơ sở đóng gói phân loại trái, dán mã QR, đóng thùng carton, làm hồ sơ điện tử và gửi mẫu kiểm nghiệm. Với lô thí điểm "Luồng xanh", tức cách cấp kiểm dịch và giấy chứng nhận xuất xứ ngay tại vùng trồng, hai đơn vị giám định CCIC Việt Nam và Vinacontrol còn xác thực dữ liệu cho phía Trung Quốc.
- Nhà nhập khẩu nhận hàng sau khi xe qua cửa khẩu, ví dụ từ cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) sang điểm tập kết Bằng Tường, rồi bán ra ở chợ đầu mối.

Rủi ro dồn nặng về phía doanh nghiệp xuất khẩu. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, doanh nghiệp thường phải mua đứt sầu riêng tại vườn trước khi kiểm nghiệm, và chịu toàn bộ thiệt hại nếu lô hàng vượt ngưỡng dư lượng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 21/5/2026). Thời gian cũng là chi phí: theo cách làm truyền thống, từ thu hoạch tới khi xe qua cửa khẩu mất 8–11 ngày hoặc hơn.
Cách các bên mua bán với nhau được trình bày ở trang chuỗi thu mua sầu riêng. Mỗi khâu có một "giá" riêng, nên cần phân biệt các loại giá này.
Giá tại vườn, giá xuất khẩu bình quân và giá bán buôn khác nhau ra sao
Ba loại giá này đo ở ba điểm khác nhau của chuỗi nên không thể so trực tiếp với nhau. Giá tại vườn tính bằng đồng/kg; giá xuất khẩu bình quân bằng kim ngạch chia sản lượng; giá bán buôn là giá tại chợ Trung Quốc, tính bằng nhân dân tệ.
| Loại giá | Đo ở đâu | Đơn vị | Cách tính | Nguồn thường dùng |
|---|---|---|---|---|
| Giá tại vườn | Vườn hoặc điểm thu mua trong nước | Đồng/kg | Giá thương lái trả theo giống, loại trái hoặc giá bao cả vườn | Cổng thông tin tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường, hiệp hội |
| Giá xuất khẩu bình quân | Khi hàng ra khỏi Việt Nam | USD/tấn | Kim ngạch chia khối lượng của cùng kỳ | Cục Hải quan |
| Giá bán buôn | Chợ đầu mối ở Trung Quốc | Nhân dân tệ/kg hoặc theo thùng | Giá giao dịch giữa nhà nhập khẩu và người bán lại | Nguồn thị trường Trung Quốc |
Giá tại vườn còn phụ thuộc chất lượng từng trái. Ông Nguyễn Quốc Nghị ở xã La Ngà (Đồng Nai) bán Dona đạt chuẩn xuất khẩu cho thương lái 60.000–70.000 đồng/kg; vườn có nhiều trái kém chỉ bán 30.000–40.000 đồng/kg, còn trái sượng cơm chỉ hơn 10.000 đồng/kg (Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai, 30/6/2026). Ở Đắk Lắk, cuối tháng 10/2025 giá tại vườn giữ mức 60.000–70.000 đồng/kg, theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Giá bình quân gộp mọi giống và mọi loại trái, nên trái loại A của giống đắt như Dona có thể nằm trên mức quy đổi, còn Ri6 hay trái loại thấp nằm dưới. Khi đọc tin "giá sầu riêng", cần hỏi đó là giá đo ở đâu, của loại trái nào và tính bằng đơn vị gì. Muốn so được các loại giá, phải đưa về cùng một đơn vị.
Cách quy giá xuất khẩu tính bằng USD/tấn ra đồng/kg
Muốn đổi giá xuất khẩu từ USD/tấn ra đồng/kg, lấy giá USD/tấn nhân với tỷ giá USD/VND rồi chia cho 1.000. Cách làm gồm ba bước:
- Lấy giá bình quân USD/tấn của đúng kỳ trong khối số liệu, không trộn các kỳ với nhau.
- Nhân với tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước và ghi rõ ngày; ngày 10/10/2026, tỷ giá này là 25.629 đồng/USD.
- Chia cho 1.000 để ra đồng/kg, rồi làm tròn tới hàng trăm đồng.
Ví dụ với giá nhập bình quân hàng Việt Nam tại Trung Quốc trong 11 tháng/2025: hơn 3,24 tỷ USD chia cho 884.600 tấn được khoảng 3.663 USD/tấn. Nhân với 25.629 đồng/USD rồi chia cho 1.000, kết quả khoảng 93.900 đồng/kg. Con số này không bằng giá tại vườn vì đây là giá của hàng đã phân loại, đã đóng gói và đã tới Trung Quốc. Giá tính bằng nhân dân tệ/kg được quy đổi theo cùng cách, dùng tỷ giá nhân dân tệ/đồng của cùng ngày. Có giá quy đổi rồi mới so được với giá ở chợ đầu mối.
Giá sầu riêng tươi tại chợ đầu mối Trung Quốc
Giá sầu riêng tươi tại chợ đầu mối Trung Quốc là giá bán buôn ở các chợ trái cây lớn. Giá này thường cao hơn giá xuất khẩu bình quân vì đã cộng vận chuyển, thông quan và lãi của nhà nhập khẩu. Theo Cục Xuất nhập khẩu ngày 4/8/2026, nhiều nước tăng sản lượng nên giá tại Trung Quốc giảm. Bảng giá theo từng chợ nằm ở trang giá sầu riêng tươi tại chợ đầu mối Trung Quốc.
5 yếu tố tác động tới giá sầu riêng tươi xuất khẩu
Năm yếu tố tác động mạnh nhất tới giá sầu riêng tươi xuất khẩu, xếp từ mạnh tới yếu, là: nguồn cung theo mùa vụ; sức mua của Trung Quốc dịp lễ, Tết; tốc độ kiểm nghiệm và thông quan; cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác; tỷ giá và chi phí vận chuyển. Nguồn cung đứng đầu vì hàng tươi không chờ được lâu.
Về sức mua, Trung Quốc tiêu thụ khoảng 90% lượng sầu riêng trên thế giới, theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) ngày 4/8/2026. Vì vậy, thay đổi trong nhu cầu của thị trường này truyền nhanh vào giá thu mua ở Việt Nam.

Phần dưới bắt đầu từ yếu tố mạnh nhất là nguồn cung.
Nguồn cung theo mùa vụ của từng vùng trồng
Khi nhiều vùng trồng thu hoạch cùng lúc, nguồn cung dồn lên và giá xuất khẩu giảm. Khi Việt Nam vào vụ đúng lúc Thái Lan hết vụ, giá thường được giữ ở mức cao hơn. Theo ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (VOV, 7/1/2026), Tây Nguyên thu hoạch muộn hơn Thái Lan nên Việt Nam tăng được lượng hàng khi nguồn cung của Thái Lan giảm.
Năm 2026, cao điểm thu hoạch rơi vào tháng 8 đến tháng 10, chủ yếu ở Tây Nguyên, và Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 10/8/2026 nêu nguy cơ ùn ứ, dư cung trong giai đoạn này. Ba tỉnh lớn chiếm phần lớn khoảng 1,3 triệu tấn dự kiến thu hoạch trong 5 tháng cuối năm, riêng Đắk Lắk khoảng 500.000 tấn.
Sản lượng sầu riêng dự kiến 5 tháng cuối năm 2026 ở ba tỉnh lớn
Xem số liệu
| Đơn vị: tấn | Giá trị |
|---|---|
| Đắk Lắk | 500.000 |
| Lâm Đồng | 300.000 |
| Gia Lai | 58.000 |
Lịch thu hoạch chi tiết nằm ở trang lịch mùa vụ sầu riêng theo vùng, còn quy mô từng vùng thuộc trang vùng trồng sầu riêng Việt Nam. Cung chỉ là một vế; cầu có cao mà hàng không qua cửa khẩu kịp thì giá vẫn giảm.
Tốc độ kiểm nghiệm, kiểm dịch và thông quan
Khi kiểm nghiệm, kiểm dịch hoặc thông quan chậm, hàng tươi phải nằm chờ, chất lượng giảm và giá thu mua trong nước giảm theo. Giữa tháng 10/2025, một số phòng kiểm nghiệm tạm dừng do bảo trì, hỏng thiết bị hoặc đánh giá lại; Bộ Nông nghiệp và Môi trường họp khẩn ngày 24/10/2025 và khoảng 1 tuần sau việc kiểm nghiệm mới trở lại bình thường, theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Tới ngày 11/5/2026, chỉ 18/30 phòng kiểm cadimi và 19/30 phòng kiểm vàng O hoạt động tích cực.
Sau đợt gỡ vướng tháng 5/2026, số container thông quan mỗi ngày tăng từ 5–10 xe lên vài chục xe, theo ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đồng Tháp. Tới tháng 7–8/2026, GACC công nhận 50 phòng kiểm nghiệm, công suất khoảng 13.000 mẫu cadimi và 10.000 mẫu vàng O mỗi ngày. Lô thí điểm "Luồng xanh" ngày 10/4/2026 rút thời gian từ thu hoạch tới cửa khẩu còn khoảng 6 ngày.

Yêu cầu về hai chỉ tiêu này nằm ở trang kiểm nghiệm cadimi và vàng O. Khi hàng Việt chậm, hàng của nước khác thế chỗ.
Cạnh tranh từ Thái Lan, Malaysia, Philippines và Campuchia
Cạnh tranh kéo giá sầu riêng tươi Việt Nam xuống mạnh nhất khi mùa vụ trùng với Thái Lan, đối thủ lớn nhất tại Trung Quốc. Theo số hải quan Trung Quốc do Cục Xuất nhập khẩu dẫn, trong 11 tháng/2025 Việt Nam chiếm 49% khối lượng và 45% giá trị sầu riêng tươi nhập vào Trung Quốc, Thái Lan chiếm 50,4% và 54,4%. Trong 6 tháng/2026, Thái Lan đạt 3,79 tỷ USD (81% giá trị), Việt Nam 846 triệu USD (18%).
Giữa năm 2024 và 2025, giá trị hàng Việt Nam vào Trung Quốc tăng từ 2,94 lên 3,44 tỷ USD, còn hàng Thái Lan đứng quanh mức 4 tỷ USD.
Giá trị sầu riêng Trung Quốc nhập từ Thái Lan và Việt Nam
■Năm 2024 ■Năm 2025
Xem số liệu
| Đơn vị: tỷ USD | Năm 2024 | Năm 2025 |
|---|---|---|
| Thái Lan | 4,01 | 4 |
| Việt Nam | 2,94 | 3,44 |
Các nước khác vào thị trường này muộn hơn và ở quy mô nhỏ hơn. Bộ Nông nghiệp Philippines ký nghị định thư với GACC ngày 4/1/2023; GACC cho phép nhập sầu riêng tươi Malaysia từ ngày 24/6/2024, và 6 tháng/2026 Malaysia đạt 30 triệu USD. Diễn biến từng nước được trình bày ở trang các nước cạnh tranh xuất khẩu sầu riêng. Yếu tố cuối cùng nằm ngoài vườn và ngoài chợ: tỷ giá và chi phí vận chuyển.
Tỷ giá và chi phí vận chuyển
Biến động của tỷ giá nhân dân tệ, USD so với đồng Việt Nam và chi phí xe lạnh, cước vận chuyển làm thay đổi số đồng/kg mà doanh nghiệp xuất khẩu thu về, từ đó tác động tới giá tại vườn. Khi đồng tiền thanh toán yếu đi so với đồng Việt Nam, cùng một mức giá bán quy ra ít đồng hơn, và ngược lại. Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm ngày 9/10/2026 là 25.629 đồng/USD, giảm 5 đồng so với ngày 8/10 và giữ nguyên ngày 10/10; biên độ ±5% cho phép mức trần 26.910 đồng/USD.
Ví dụ tính: với giá khoảng 3.663 USD/tấn ở khối số liệu, mỗi 1% thay đổi của tỷ giá làm giá quy đổi xê dịch khoảng 940 đồng/kg. Chi phí vận chuyển đường bộ và thời gian xe nằm chờ ở cửa khẩu trừ thẳng vào phần thu về, nên tuyến đường ngắn là lợi thế của hàng Việt. Năm yếu tố này cộng lại tạo nên đường giá qua từng năm.
Diễn biến giá sầu riêng tươi xuất khẩu qua các năm
Qua các năm, giá xuất khẩu bình quân của sầu riêng tươi lên xuống theo nguồn cung, không tăng đều theo kim ngạch. Tính từ số hải quan Trung Quốc ở khối số liệu, giá nhập bình quân giảm từ khoảng 4.481 USD/tấn năm 2024 xuống khoảng 4.010 USD/tấn năm 2025. Số liệu từng năm nằm ở trang diễn biến giá sầu riêng tươi xuất khẩu qua các năm.
Triển vọng xuất khẩu sầu riêng tươi sang Trung Quốc
Trung Quốc vẫn là thị trường quyết định triển vọng của sầu riêng tươi Việt Nam. Động lực đến từ nhu cầu tiêu thụ và lợi thế mùa vụ, còn rủi ro nằm ở kiểm soát chất lượng và cạnh tranh. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (VOV, 7/1/2026), nếu giữ được chất lượng và đáp ứng quy định, kim ngạch năm 2026 có thể vượt 4 tỷ USD.
Động lực giữ đà tăng trưởng
Ba động lực chính là nhu cầu nhập khẩu sầu riêng lớn của Trung Quốc, lợi thế vận chuyển đường bộ ngắn ngày và vụ thu hoạch lệch với Thái Lan. Lượng mã số được cấp thêm củng cố cả ba động lực này.
- Nhu cầu lớn: theo khối số liệu, năm 2025 Trung Quốc nhập 7,49 tỷ USD sầu riêng tươi, tăng so với 6,99 tỷ USD năm 2024.
- Đường ngắn: ông Nguyễn Quang Hiếu nêu các lợi thế gần Trung Quốc, đi bằng đường bộ và cung ứng quanh năm (VOV, 7/1/2026). Với hàng tươi, mỗi ngày đi đường ít hơn giúp trái giữ chất lượng lâu hơn.
- Lệch vụ: Tây Nguyên thu hoạch muộn hơn Thái Lan, nên hàng Việt tăng được lượng khi nguồn cung Thái Lan giảm.
- Mã số: sau chuyến làm việc ngày 14/8/2026, GACC cấp thêm 567 mã số vùng trồng cho sầu riêng Việt Nam, mở rộng lượng hàng đủ điều kiện đi chính ngạch.
Cùng những động lực đó vẫn có rủi ro đi kèm.
Rủi ro có thể làm chậm đà tăng
Bốn rủi ro lớn nhất là siết kiểm tra dư lượng, ùn ứ và tạm dừng thông quan, cạnh tranh gia tăng, và sản lượng trong nước tăng nhanh hơn nhu cầu. Rủi ro thứ hai đã xảy ra nhiều lần, các rủi ro còn lại đang ở mức cảnh báo.
- Siết kiểm tra dư lượng: ông Nguyễn Quang Hiếu cảnh báo việc kiểm soát dư lượng và các cảnh báo kỹ thuật của phía Trung Quốc có thể gây khó cho xuất khẩu năm 2026 (VOV, 7/1/2026).
- Ùn ứ và tạm dừng thông quan: đợt gián đoạn kiểm nghiệm giữa tháng 10/2025 kéo dài khoảng 1 tuần, và đầu năm 2026 container lại nằm chờ ở cửa khẩu; cách xử lý lô hàng bị dừng thuộc trang ùn ứ và tạm dừng thông quan ở cửa khẩu.
- Cạnh tranh gia tăng: theo Cục Xuất nhập khẩu ngày 4/8/2026, nhiều nước tăng sản lượng khiến giá sầu riêng tại Trung Quốc giảm.
- Dư cung trong nước: diện tích năm 2026 khoảng 200.000 ha, gấp đôi mức quy hoạch khoảng 100.000 ha; Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cảnh báo việc mở rộng ồ ạt có thể dẫn tới dư cung và yêu cầu các địa phương không mở rộng diện tích (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/8/2026).
Nếu các rủi ro này xảy ra cùng lúc trong cao điểm thu hoạch, giá tại vườn có thể giảm nhanh vì hàng tươi không chờ được. Để bớt phụ thuộc vào một thị trường, cần nhìn xa hơn Trung Quốc.
Triển vọng xuất khẩu sầu riêng tươi trong những năm tới
Triển vọng dài hạn của sầu riêng tươi phụ thuộc vào hai điều: mở thêm thị trường ngoài Trung Quốc và đạt được các mục tiêu kim ngạch mà cơ quan quản lý đã đặt ra. Khi một thị trường chiếm khoảng 95% kim ngạch, mọi đợt siết kiểm tra hay ùn ứ ở đó tác động lên gần như toàn bộ đầu ra.
Thị trường mới ngoài Trung Quốc
Các thị trường ngoài Trung Quốc hiện chỉ chiếm khoảng 5% kim ngạch, theo khối số liệu. Ấn Độ đã đồng ý cho nhập sầu riêng tươi Việt Nam từ tháng 7/2026, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Úc và New Zealand đang được đàm phán. Mở cửa một thị trường có thể mất tới 10 năm đàm phán, theo bà Phạm Thị Mỹ Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu II (Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai, 30/6/2026).
| Thị trường | Trạng thái | Nguồn và ngày |
|---|---|---|
| Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc | Đã có kim ngạch trong 8 tháng/2026; nằm trong nhóm thị trường cần ưu tiên | Cục Hải quan, tháng 9/2026; Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/8/2026 |
| Ấn Độ | Đồng ý cho nhập sầu riêng tươi Việt Nam từ tháng 7/2026 | Bộ Nông nghiệp và Môi trường, họp báo Chính phủ 3/9/2026 |
| Úc | Đang đàm phán mở cửa | Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/8/2026; họp báo Chính phủ 3/9/2026 |
| New Zealand | Đang đàm phán mở cửa | Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/8/2026; họp báo Chính phủ 3/9/2026 |
| EU, UAE | Nằm trong nhóm thị trường Phó Thủ tướng nêu cần ưu tiên | Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 10/8/2026 |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt việc đa dạng thị trường (Ấn Độ, Úc, New Zealand) và đa dạng sản phẩm (đông lạnh, chế biến) trong năm nhóm giải pháp nêu ngày 3/9/2026. Thị trường mới là một phần trong mục tiêu chung của ngành.
Mục tiêu kim ngạch và dự báo của cơ quan quản lý
Mục tiêu kim ngạch sầu riêng năm 2026 là khoảng 4 đến 4,5 tỷ USD theo cơ quan quản lý. Đây là mục tiêu, chưa phải số đã đạt, và tính cho sầu riêng nói chung, gồm cả hàng đông lạnh.
- Mục tiêu, nêu ngày 3/9/2026: ít nhất bằng năm 2025 là 3,85 tỷ USD (khoảng 98.670 tỷ đồng), có thể đạt khoảng 4 tỷ USD (khoảng 102.520 tỷ đồng). Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nói: "Chúng tôi đang làm các thủ tục còn lại để đưa xuất khẩu sầu riêng trong cuối năm nay ít nhất đạt bằng năm ngoái".
- Mục tiêu, nêu tháng 5/2026: 4,5 tỷ USD (khoảng 115.330 tỷ đồng), theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 21/5/2026.
- Dự báo, nêu ngày 4/8/2026: ông Đặng Phúc Nguyên (Vinafruit) cho rằng xuất khẩu sầu riêng năm 2026 có thể vượt mốc 4 tỷ USD, theo Báo Nông nghiệp và Môi trường.
Các số đồng quy đổi theo tỷ giá 25.629 đồng/USD ngày 10/10/2026. Theo khối số liệu, lũy kế 8 tháng của Cục Hải quan (trên 2,7 tỷ USD) đã bằng khoảng 70% mức 3,85 tỷ USD và khoảng 68% mức 4 tỷ USD; với số ước tính 1,95 tỷ USD của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỷ lệ là khoảng 49% mức 4 tỷ USD. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kết quả phụ thuộc vào việc giữ được chất lượng và đáp ứng quy định. Dù đạt mục tiêu hay không, người chịu tác động trực tiếp là nhà vườn.
Sầu riêng tươi xuất khẩu tác động tới nhà vườn Việt Nam thế nào?
Sầu riêng tươi xuất khẩu tác động trực tiếp tới thu nhập và cách bán hàng của nhà vườn, vì giá tại vườn đi theo giá xuất khẩu và theo tiêu chuẩn mà hàng xuất khẩu đòi hỏi. Ở Đồng Nai, lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ lệ trái đạt chuẩn, theo cổng thông tin của tỉnh ngày 30/6/2026. Phân tích đầy đủ nằm ở trang tác động của sầu riêng tươi xuất khẩu tới nhà vườn.
Các phần trên đã làm rõ sầu riêng tươi xuất khẩu là gì, giá hình thành qua những khâu nào, hàng bán sang đâu và triển vọng ra sao. Phần tiếp nối của chủ đề gồm bảng giá sầu riêng tại chợ đầu mối Trung Quốc và tiêu chuẩn chất lượng sầu riêng xuất khẩu.
