Ngày 18/7, Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc và Hội Nghiên cứu Phát triển Nông nghiệp Xanh Trung Quốc đã tổ chức hội thảo công bố “Báo cáo Phát triển Nông nghiệp Xanh Trung Quốc 2025” tại Bắc Kinh. Báo cáo chỉ ra rằng trình độ phát triển nông nghiệp xanh của Trung Quốc tiếp tục cải thiện, cơ chế đổi mới không ngừng mở rộng, nghiên cứu lý thuyết và đột phá công nghệ phối hợp chặt chẽ, thực tiễn phát triển nông nghiệp xanh khu vực ngày càng đi vào chiều sâu.

Diện tích bảo vệ đất canh tác và tiết kiệm nước tưới tăng mạnh

Báo cáo cho biết công tác bảo vệ tài nguyên đất canh tác của Trung Quốc ngày càng được tăng cường. Tại bốn tỉnh phía Đông Bắc, diện tích canh tác bảo vệ đạt 112 triệu mẫu (khoảng 7,47 triệu ha), và trong sáu năm qua, tổng diện tích canh tác bảo vệ tích lũy đạt 516 triệu mẫu (khoảng 34,4 triệu ha). Tính đến cuối năm 2025, diện tích ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm kết hợp bón phân cho cây lương thực và dầu ăn trên toàn quốc vượt quá 88 triệu mẫu (khoảng 5,87 triệu ha). Trong 10 năm qua, lượng nước sử dụng cho nông nghiệp hàng năm và lượng nước tưới thực tế trên mỗi mẫu đất canh tác lần lượt giảm 5,7% và 14,9%.

Lượng phân bón giảm, hiệu suất sử dụng tăng

Kể từ năm 2015, lượng phân bón hóa học sử dụng trong nông nghiệp Trung Quốc giảm liên tục, cơ cấu bón phân ngày càng tối ưu. Năm 2025, tỷ lệ sử dụng phân bón cho ba loại cây lương thực chính (lúa nước, lúa mì, ngô) đạt 43,3%, tăng 3,1 điểm phần trăm so với năm 2020. Tỷ lệ bao phủ của công nghệ bón phân theo kết quả phân tích đất vượt quá 95%. Việc sử dụng thuốc trừ sâu khoa học và hiệu quả cũng duy trì xu hướng giảm hàng năm. Tỷ lệ sử dụng thuốc trừ sâu cho ba loại cây lương thực chính đạt 45,0%, tăng 4,4 điểm phần trăm so với năm 2020. Năm 2025, tỷ lệ tận dụng rơm rạ trên toàn quốc ổn định trên 88%, diện tích rơm rạ được trả lại ruộng tích lũy vượt quá 400 triệu mẫu (khoảng 26,67 triệu ha).

Bảo tồn nguồn gen và năng lực cung ứng xanh được củng cố

Hệ thống bảo vệ tài nguyên sinh vật nông nghiệp tiếp tục được hoàn thiện. Nhà nước bảo tồn dài hạn 618.000 mẫu giống cây trồng, hơn 2 triệu mẫu vật liệu di truyền vật nuôi và hơn 140.000 mẫu vật liệu di truyền thủy sản. Báo cáo cũng chỉ ra rằng năng lực cung ứng sản xuất xanh được tăng cường ổn định, ngành giống xanh đạt đột phá mới, trang bị máy móc nông nghiệp hiện đại hỗ trợ mạnh mẽ hơn, chuỗi cung ứng nông nghiệp xanh liên tục được tối ưu, chất lượng và an toàn nông sản ổn định theo hướng tốt hơn. Đời sống nông thôn trở nên giàu đẹp hơn, ngành nghề nông thôn nâng cao chất lượng và hiệu quả, thu nhập nông dân tăng trưởng ổn định, môi trường sống tiếp tục cải thiện.

Chuyên gia đánh giá: Dữ liệu phá vỡ quan niệm “năng suất cao phải đầu tư cao”

Giáo sư Zhang Fusuo, Viện sĩ Viện Kỹ thuật Trung Quốc và Giáo sư Đại học Nông nghiệp Trung Quốc, đánh giá cao giá trị học thuật và thực tiễn của báo cáo. Ông cho rằng báo cáo dựa trên tổng thể xây dựng cường quốc nông nghiệp, bám sát yêu cầu chiến lược chuyển đổi xanh toàn diện của kinh tế - xã hội, nội dung hệ thống hoàn chỉnh, dữ liệu có thẩm quyền và chính xác, các trường hợp điển hình sinh động, phác họa đầy đủ bức tranh mới về phát triển nông nghiệp xanh Trung Quốc với “sản lượng ổn định, tiết kiệm tài nguyên, sinh thái tốt hơn, nâng cao chất lượng ngành, nông thôn đáng sống, cơ chế hoàn thiện”. Giá trị nổi bật nhất của báo cáo là dùng bộ dữ liệu khách quan phá vỡ quan niệm truyền thống “năng suất cao phải đầu tư cao, xanh phải giảm sản lượng”, khẳng định Trung Quốc đã tìm ra con đường đặc sắc với sản lượng lương thực ổn định và chất lượng sinh thái được nâng cao đồng thời.

Báo cáo được công bố liên tục 8 năm, là tài liệu tham khảo mang tính biểu tượng

Ông Wu Wenbin, Viện trưởng Viện Tài nguyên Nông nghiệp và Quy hoạch Nông thôn thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, cho biết “Báo cáo Phát triển Nông nghiệp Xanh Trung Quốc” đã được công bố liên tục trong 8 năm kể từ năm 2019. Đây là báo cáo tư vấn mang tính biểu tượng, hệ thống và toàn diện theo dõi tình hình phát triển nông nghiệp xanh quốc gia, không chỉ ở Trung Quốc mà còn trên thế giới, với tính khoa học có thẩm quyền, tính hệ thống chiến lược, tính chuẩn mực quốc tế, tính hướng dẫn chính sách và tính thực tiễn.

Ảnh: Kindel Media / Pexels