Mức trần chỉ là giới hạn trên. Lượng hàng chín cùng lúc mới quyết định giá vườn nằm sát mức trần hay bị ép xuống xa hơn. Khi nhiều vùng cùng vào vụ, người mua có nhiều lựa chọn và trả thấp hơn. Khi hàng khan, doanh nghiệp phải trả gần sát mức mà đơn hàng chịu được.

Bài dùng bốn tầng giá: giá tại vườn, giá giao vựa hoặc giao kho, giá xuất khẩu và giá bán buôn ở chợ đầu mối Trung Quốc. Trên bảng giá, trái còn được chia theo cấp hàng gồm loại A, loại B, hàng dạt và hàng xô. Trái cũng được tách theo giống, phổ biến nhất là Ri6 và sầu Thái, tên quốc tế là Monthong. Giá trong nước tính bằng đồng/kg, còn chợ bán buôn Trung Quốc niêm yết bằng nhân dân tệ cho 500 g.

Các phần tiếp theo lần lượt đi qua cơ chế truyền giá ngược, 4 tầng giá, 4 nhóm yếu tố, khác biệt giữa các vùng trồng, lý do giá biến động mạnh và cách đọc một bảng giá. Đây là bài giải thích cơ chế, không phải bản tin giá trong ngày. Mọi mức giá trong bài chỉ minh họa cho cơ chế và đều ghi nguồn, ngày.

Giá sầu riêng hình thành từ đơn hàng xuất khẩu truyền ngược về vườn

Giá sầu riêng hình thành từ đơn hàng xuất khẩu rồi truyền ngược về vườn. Doanh nghiệp xuất khẩu tính giá bán được ở Trung Quốc, trừ chi phí từng khâu rồi ra giá cho vựa. Vựa trừ tiếp phần chi phí và lợi nhuận của mình để ra giá cho thương lái, và thương lái ra giá cho nhà vườn.

Người đưa ra mức giá đầu tiên trong chuỗi vì thế là doanh nghiệp đang cầm đơn hàng, không phải nhà vườn. Giá trong nước hiếm khi đi ngược chiều giá đầu ra, vì gần như toàn bộ hàng xuất khẩu đi về một thị trường. Trung Quốc chiếm khoảng 95% kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam năm 2026, tính đến buổi họp báo Chính phủ ngày 3/9/2026, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Gần như mọi đồng thu về từ xuất khẩu sầu riêng năm 2026 đến từ một đầu ra duy nhất.

Tỷ trọng thị trường trong kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam năm 2026

%0255075100Trung Quốc95 %Các thị trường khác5 %Trung Quốc 95 %Các thị trường khác 5 %
Xem số liệu
Đơn vị: %Giá trị
Trung Quốc95
Các thị trường khác5
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 03/09/2026

Sầu riêng cũng là mặt hàng lớn nhất trong rổ rau quả, chiếm khoảng 45% giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2025 đạt khoảng 3,85 tỷ USD, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp tại họp báo ngày 3/9/2026. Bộ kỳ vọng kim ngạch năm 2026 đạt ít nhất 3,85 tỷ USD, có thể khoảng 4 tỷ USD.

Dòng hàng và dòng giá chạy ngược chiều nhau trên cùng một chuỗi bốn điểm giao.

Sơ đồ dòng hàng sầu riêng từ vườn tới chợ Trung Quốc và dòng giá đi theo chiều ngược lại
Sơ đồ: Hàng đi từ vườn sang Trung Quốc, giá truyền ngược về vườn – Nguồn: Hỏa Tốc 24h tổng hợp

Cơ chế truyền ngược này chạy trên hai lực: lượng hàng chín theo mùa vụ và sức mua theo dịp.

Cung theo mùa vụ gặp cầu theo dịp lễ, Tết

Giá sầu riêng cao nhất khi ít hàng chín trùng với dịp tiêu dùng lớn ở Trung Quốc, và thấp nhất khi nhiều vùng thu hoạch rộ cùng lúc. Ba tình huống sau giải thích phần lớn các đợt lên xuống trong năm:

  • Cung dồn lên: nhiều vùng trong nước cùng vào vụ, lại trùng vụ của nước xuất khẩu khác, nên người mua có thừa nguồn hàng để chọn.
  • Cầu tăng: dịp lễ, Tết ở Trung Quốc là lúc nhà nhập khẩu cần nhiều hàng hơn để bán ra.
  • Hai lực gặp nhau: hàng trái vụ ít người có, nên khi rơi vào dịp cầu cao thì được trả giá cao hơn hàng chính vụ.

Chiều giảm thể hiện rõ ở chợ Xinfadi tại Bắc Kinh. Ngày 10/5/2026, giá bán buôn bình quân của sầu riêng Monthong loại A Việt Nam tại chợ này giảm hơn 40% so với một tháng trước và hơn 30% so với cùng kỳ, theo số liệu của chợ do báo Quang Minh (Trung Quốc) và FreshPlaza đưa tin cuối tháng 5/2026. Đợt giảm rơi vào tháng 5, giữa vụ rộ của Thái Lan.

Phía cầu lớn nhất, và cũng là nơi đặt mức trần cho giá Việt Nam, là Trung Quốc.

Vì sao thị trường Trung Quốc neo giá sầu riêng Việt Nam?

Trung Quốc neo giá sầu riêng Việt Nam vì đây là đầu ra lớn nhất của sầu riêng tươi và đông lạnh Việt Nam. Vì vậy giá bán buôn ở các chợ đầu mối Trung Quốc quyết định mức giá doanh nghiệp dám trả trong nước. Với tỷ trọng khoảng 95% kim ngạch đã nêu, giá ở chợ Trung Quốc quyết định gần như toàn bộ nguồn thu xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam.

Nền tảng của kênh chính ngạch là nghị định thư về kiểm dịch thực vật cho sầu riêng tươi, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc ký ngày 11/7/2022, theo Bộ Công Thương. Nghị định thư là văn bản thỏa thuận giữa hai nước, nêu điều kiện để một loại hàng được nhập chính thức. Theo văn bản này, vườn phải có mã số vùng trồng, tức số đăng ký cấp cho vùng trồng đạt yêu cầu. Nơi đóng gói cũng phải có mã số cơ sở đóng gói, và hàng chỉ được xuất chính ngạch khi danh sách mã số được duyệt, đăng trên trang của Hải quan Trung Quốc.

Khi giá ở Trung Quốc giảm vì hàng từ nhiều nước cùng đổ về, doanh nghiệp hạ giá thu mua để giữ biên lợi nhuận. Mức giảm đi qua vựa, thương lái rồi về tới vườn. Nửa đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khoảng 1,07 triệu tấn sầu riêng, tăng 51,1% so với cùng kỳ, theo số liệu Hải quan Trung Quốc do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tổng hợp; diễn biến sản lượng sầu riêng Trung Quốc nhập khẩu mỗi năm được theo dõi trên trang riêng.

Từ mức neo ở chợ Trung Quốc, giá đi qua 4 tầng trước khi về tới nhà vườn.

4 tầng giá sầu riêng từ vườn đến chợ đầu mối Trung Quốc

Giá sầu riêng đi qua 4 tầng: giá tại vườn, giá giao vựa hoặc giao kho, giá xuất khẩu và giá bán buôn tại chợ đầu mối Trung Quốc. Mỗi tầng cộng thêm chi phí và rủi ro của khâu đó. Vì vậy hai con số chỉ so được với nhau khi chúng thuộc cùng một tầng giá.

Tầng giáBên mua và bên bánĐiểm giao hàngChi phí cộng thêm so với tầng trướcĐơn vị giá thường gặp
Giá tại vườnThương lái hoặc doanh nghiệp mua của nhà vườnTại vườn, trái còn trên câyTầng gốc, chưa cộng chi phí khâu sauđồng/kg
Giá giao vựa, giao khoVựa hoặc kho đóng gói mua của thương láiVựa, khoCông cắt, bốc vác, vận chuyển, hao hụtđồng/kg
Giá xuất khẩuNhà nhập khẩu mua của doanh nghiệp Việt NamKho đóng gói, cửa khẩu hoặc cảngTuyển lựa, kiểm nghiệm, đóng gói, vận chuyển, thông quan, rủi ro trả hàngTheo hợp đồng giữa hai bên
Giá bán buôn tại chợ đầu mối Trung QuốcThương nhân bán buôn bán cho người bán lẻChợ đầu mối như XinfadiCước vận chuyển, thuế phí, phí chợ, hao hụtnhân dân tệ/500 g
Sầu riêng xếp chồng trong thùng tại kho đóng gói chờ xuất khẩu
Ảnh minh họa

Tầng đầu tiên, và cũng là tầng nhà vườn nhìn thấy, là giá chốt khi trái còn trên cây.

Giá tại vườn: mức thương lái chốt khi trái còn trên cây

Giá tại vườn là mức thương lái chốt với nhà vườn khi trái còn trên cây, tính theo kg, theo cấp hàng hoặc bán xô. Đây là tầng giá thấp nhất trong chuỗi. Giá được chốt theo ba hình thức chính: bao vườn, tức mua trọn cả vườn với một giá; cắt chọn theo cấp, tức chỉ mua trái đạt từng loại; và bán xô, tức bán gộp mọi trái không phân loại.

Sau khi chốt, bên nào chịu rủi ro trái rụng, trái sượng, thời tiết xấu hay trái bị loại khi tuyển lựa là do hai bên thỏa thuận. Người mua gánh càng nhiều rủi ro thì giá trả cho vườn càng thấp. Giá tại vườn thấp hơn mọi tầng phía sau vì chưa gồm chi phí và rủi ro của các khâu tiếp theo.

Khi trái rời cây và về tới vựa, giá cộng thêm những chi phí đầu tiên.

Giá giao vựa, giao kho: cộng công cắt, vận chuyển và hao hụt

Giá giao vựa, giao kho cao hơn giá tại vườn vì đã cộng công cắt, chi phí vận chuyển từ vườn về kho và phần hao hụt khi trái bị loại. Ba khoản này phát sinh theo thứ tự:

  • Công cắt và bốc vác: khi mua tại vườn, người mua thuê đội cắt và trả công; khi nhà vườn tự cắt rồi giao, giá bán cao hơn để bù phần việc đó.
  • Vận chuyển từ vườn đến vựa hoặc kho: vườn càng xa kho, khoản này càng lớn.
  • Hao hụt và trái bị loại: trái không đạt khi phân loại phải bán giá thấp hơn, nên người mua tính trước tỷ lệ này vào giá.

Mỗi vườn có quãng đường và tỷ lệ trái đạt khác nhau. Vì vậy, cùng một ngày ở cùng một vùng, khoảng cách giữa giá giao kho và giá tại vườn vẫn thay đổi theo từng lô hàng.

Từ kho, hàng muốn đi Trung Quốc còn phải qua khâu tốn kém nhất: tuyển lựa, kiểm nghiệm và đóng gói.

Giá xuất khẩu: cộng tuyển lựa, kiểm nghiệm cadimi, vàng O, đóng gói và logistics

Giá xuất khẩu là giá doanh nghiệp bán cho nhà nhập khẩu. Giá này đã cộng chi phí tuyển lựa, kiểm nghiệm cadimi và vàng O, đóng gói tại cơ sở có mã số và chi phí đưa hàng tới cửa khẩu. Các khoản cộng thêm theo thứ tự phát sinh:

  1. Tuyển lựa, phân loại: chọn trái đủ chuẩn cho từng cấp và loại trái không đạt.
  2. Kiểm nghiệm cadimi và vàng O: cadimi là một kim loại nặng, còn vàng O là một chất tạo màu vàng. Mẫu phải gửi tới phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận.
  3. Đóng gói tại cơ sở có mã số: chỉ cơ sở nằm trong danh sách được Trung Quốc duyệt mới đóng được hàng xuất chính ngạch.
  4. Vận chuyển lên cửa khẩu hoặc cảng và làm thủ tục thông quan.
  5. Biên lợi nhuận cùng rủi ro bị trả hàng: lô không đạt khi kiểm tra có thể bị trả về, nên doanh nghiệp tính trước rủi ro này vào giá.

Năng lực kiểm nghiệm vì thế ảnh hưởng thẳng tới tốc độ ra hàng. Tháng 8/2026, 50 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam được Tổng cục Hải quan Trung Quốc chấp thuận, trong đó 47 phòng kiểm cadimi và 39 phòng kiểm vàng O, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đến đầu tháng 9/2026, con số này là 52 phòng, gồm 13 phòng thuộc bộ ngành, 10 phòng thuộc địa phương và 29 phòng tư nhân.

Khi kiểm nghiệm chậm, hàng nằm chờ lâu hơn và doanh nghiệp gánh thêm chi phí lưu kho, rủi ro hư hỏng. Áp lực đó dội ngược thành giá thu mua thấp hơn ở vườn. Phần trái lọt qua khâu tuyển lựa còn phụ thuộc vào tiêu chuẩn chọn trái sầu riêng xuất khẩu theo trọng lượng và hình dáng, vốn quyết định bao nhiêu trái của một lô được bán ở tầng giá này.

Hàng qua cửa khẩu sẽ được định giá lần cuối ở chợ đầu mối, theo một đơn vị khác hẳn đơn vị trong nước.

Giá bán buôn tại chợ đầu mối Trung Quốc quy ra đồng/kg

Giá bán buôn ở chợ đầu mối Trung Quốc được niêm yết theo nhân dân tệ cho 500 g, tức một cân Trung Quốc. Muốn so với giá trong nước, phải nhân đôi để ra giá mỗi kg rồi nhân với tỷ giá nhân dân tệ để ra đồng/kg. Chợ hay được dẫn giá nhất là Xinfadi ở Bắc Kinh.

Giá đồng/kg = giá nhân dân tệ/500 g × 2 × tỷ giá nhân dân tệ sang đồng

Theo bảng tỷ giá của Vietcombank lúc 14 giờ 32 ngày 11/10/2026 (giờ Việt Nam), mỗi 1 nhân dân tệ/500 g tương đương khoảng 7.533 đến 7.853 đồng/kg, tùy loại tỷ giá dùng để quy đổi. Muốn quy một mức giá bất kỳ, lấy số nhân dân tệ trên bảng giá nhân với hệ số ở cột cuối.

Loại tỷ giá VietcombankTỷ giá (đồng/nhân dân tệ)1 nhân dân tệ/500 g quy ra đồng/kg
Mua tiền mặt3.766,727.533,44
Mua chuyển khoản3.804,767.609,52
Bán3.926,717.853,42

Không nên lấy giá Xinfadi đã quy đổi trừ thẳng giá vườn rồi kết luận một khâu nào đó đang lãi lớn. Giữa hai tầng còn cước vận chuyển, thuế phí, phí bán buôn, hao hụt và rủi ro bị trả hàng.

Biết các tầng giá rồi, câu hỏi tiếp theo là điều gì đẩy cả chuỗi giá lên hoặc xuống.

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá sầu riêng: 4 nhóm xếp theo mức tác động

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá sầu riêng gồm 4 nhóm. Nhóm dài hạn như diện tích, mùa vụ và tiêu chuẩn kiểm dịch đặt mặt bằng giá cả mùa. Nhóm theo thời điểm như Tết, thời tiết, đơn hàng dừng và tỷ giá làm giá dao động quanh mặt bằng đó. Giống và cấp hàng tạo chênh lệch trong cùng ngày, còn cạnh tranh từ nước khác kéo giá đầu ra.

Tách nhóm đổi mặt bằng giá khỏi nhóm chỉ tạo dao động giúp người đọc phân biệt một đợt giảm vài ngày với một thay đổi kéo dài cả mùa.

Nhóm yếu tốVí dụThời gian tác độngChiều tác động thường gặp lên giá vườn
Dài hạnDiện tích cho trái, mùa vụ chính và trái vụ, tiêu chuẩn kiểm dịchCả mùa đến nhiều nămCung tăng thì mặt bằng giá giảm; tiêu chuẩn siết thì hàng đạt chuẩn được giá hơn
Theo thời điểmDịp Tết, thời tiết xấu, đơn hàng dừng, tỷ giáVài ngày đến vài tuầnDao động lên hoặc xuống quanh mặt bằng của mùa
Giống và cấp hàngRi6, sầu Thái; loại A, loại B, hàng dạtTrong cùng một ngàySầu Thái và cấp cao hơn thường được trả giá cao hơn
Cạnh tranh từ nước khácThái Lan, Malaysia, Philippines, CampuchiaTheo mùa vụ của nước cạnh tranhTrùng vụ thì giá đầu ra chịu sức ép, kéo giá vườn xuống

Nhóm có sức nặng lớn nhất là nhóm quyết định lượng hàng của cả mùa.

Nhóm dài hạn: diện tích trồng, mùa vụ chính và trái vụ, tiêu chuẩn kiểm dịch

Nhóm dài hạn quyết định mặt bằng giá của cả mùa. Diện tích cho trái tăng thì cung tăng. Mùa vụ chính và trái vụ quyết định lúc nào nhiều hàng. Tiêu chuẩn kiểm dịch quyết định bao nhiêu hàng đủ điều kiện xuất khẩu.

  • Diện tích trồng: năm 2026, cả nước có khoảng 200.000 ha sầu riêng, trong đó 129.500 ha cho sản phẩm, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; quy hoạch trước đây chỉ khoảng 100.000 ha. Sản lượng năm 2026 dự kiến khoảng 2,08 triệu tấn. Khoảng 70.500 ha còn lại chưa cho sản phẩm, và khi bắt đầu cho trái, phần diện tích này có thể làm nguồn cung tăng thêm.
  • Mùa vụ chính và trái vụ: chính vụ là lúc nhiều vườn cùng thu hoạch nên giá thấp hơn. Trái vụ là hàng làm ra ngoài thời gian đó, ít người có nên thường được trả cao hơn.
  • Tiêu chuẩn kiểm dịch: nghị định thư sầu riêng tươi yêu cầu quản lý dịch hại như ruồi đục quả, rệp sáp, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và lưu nhật ký sản xuất. Tháng 5/2025, phía Trung Quốc duyệt thêm 829 mã số vùng trồng và 131 cơ sở đóng gói sầu riêng của Việt Nam; ngày 14/8/2026, duyệt thêm 401 mã số vùng trồng và 166 cơ sở đóng gói. Đầu tháng 9/2026, có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động xuất sang Trung Quốc, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Khi tiêu chuẩn siết lại, khoảng chênh giữa hàng đạt chuẩn và hàng không đạt nới rộng, vì chỉ hàng đạt mới vào được tầng giá xuất khẩu. Số mã số được duyệt càng nhiều thì lượng hàng đủ điều kiện đi chính ngạch càng lớn, và lượng đó hiện lên trong kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam theo tháng.

Trên mặt bằng đó, giá còn dao động theo những cú hích ngắn hạn.

Nhóm theo thời điểm: dịp Tết, thời tiết, đơn hàng dừng, tỷ giá

Nhóm theo thời điểm làm giá dao động trong vài ngày đến vài tuần quanh mặt bằng của mùa. Tết đẩy cầu lên. Mưa bão hay ngập úng làm hụt hàng. Đơn hàng dừng vì thông quan hoặc kiểm nghiệm làm ứ hàng. Tỷ giá nhân dân tệ làm thay đổi giá quy ra đồng.

  • Dịp Tết: cầu ở Trung Quốc tăng đúng lúc các vùng chính vụ trong nước đã hết hàng, nên số ít trái vụ được trả giá cao.
  • Thời tiết: mưa bão, ngập úng hay hạn mặn có thể làm hụt sản lượng, hoặc làm trái kém chất lượng khiến nhiều trái rơi xuống cấp thấp.
  • Đơn hàng dừng: khi thông quan hoặc kiểm nghiệm bị nghẽn, hàng đã cắt không đi được, vựa ngừng nhận và giá vườn bị ép. Ngày 8/5/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi công văn tới các địa phương và cơ sở kiểm nghiệm, yêu cầu "không để xảy ra tình trạng né tránh, chậm trễ hoặc từ chối kiểm nghiệm không có lý do chính đáng".
  • Tỷ giá: giá ở Trung Quốc tính bằng nhân dân tệ, nên khi nhân dân tệ tăng so với đồng, cùng một mức giá niêm yết quy ra nhiều đồng hơn, và ngược lại.

Ngay cả khi mặt bằng giá đứng yên, hai trái sầu riêng vẫn có thể chênh giá nhau vì giống và cấp hàng.

Giống và cấp hàng: vì sao Ri6 và sầu Thái chênh giá

Giống và cấp hàng tạo chênh giá ngay trong cùng một vùng, cùng một ngày. Ở bốn bảng giá thu mua trong nước có cùng nguồn, cùng ngày dưới đây, sầu Thái (Monthong) đều có giá cao hơn Ri6. Trong cùng một giống, cấp hàng cao hơn được trả giá cao hơn.

Bốn bảng giá ở bốn thời điểm, bốn nguồn khác nhau cho cùng một chiều chênh. Mỗi hàng chỉ so hai giống trong cùng một bảng giá, không so các hàng với nhau vì khác vùng, khác thời điểm.

Thời điểm và vùngSầu Thái (Monthong), đồng/kgRi6, đồng/kgNguồn
Tháng 8/2023, Đắk Lắk70.000–85.00050.000–64.000VnExpress, 05/08/2023
15/4/2024, Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang100.000–110.00060.000–70.000Sài Gòn Giải Phóng, 15/04/2024
4/5/2025, miền Tây70.000–75.00050.000–57.000 (loại A)PLO, 04/05/2025
Đầu tháng 2/2026Tới 140.000 (loại A)Khoảng 80.000 (loại A)Doanh nghiệp và Hội nhập, 07/02/2026

Theo bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, chất lượng trái quyết định giá nhiều hơn tấm giấy mã số vùng trồng. Bà viết trên VnExpress ngày 13/4/2023: "Khách hàng mua sản phẩm là xem xét chất lượng chứ không mua mã số." Đây là nhận định của bà Hạnh, gắn với việc mã số chỉ mở cửa cho lô hàng, còn giá do chất lượng trái quyết định.

Lợi thế giống và chất lượng chỉ có nghĩa khi đặt cạnh hàng của các nước đang cùng bán vào Trung Quốc.

Cạnh tranh từ sầu riêng Thái Lan, Malaysia và các nước xuất khẩu khác

Sầu riêng Thái Lan, Malaysia và các nước xuất khẩu khác cạnh tranh trực tiếp với hàng Việt Nam ở Trung Quốc. Khi mùa của họ trùng mùa của Việt Nam, giá bán buôn ở Trung Quốc chịu sức ép và kéo giá vườn trong nước xuống. Ngoài Thái Lan, các nước đã được Trung Quốc cho xuất sầu riêng tươi gồm Việt Nam, Malaysia, Philippines và Campuchia, theo Tân Hoa xã và báo The Nation (Thái Lan).

Thái Lan dẫn đầu rõ rệt. Nửa đầu năm 2026, hàng Thái chiếm 81% kim ngạch nhập khẩu sầu riêng của Trung Quốc, khoảng 3,79 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ hai với khoảng 846 triệu USD, tương đương 18%, theo số liệu Hải quan Trung Quốc do Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) tổng hợp. Kim ngạch của Thái Lan vì thế gấp khoảng 4,5 lần Việt Nam trong cùng kỳ.

Kim ngạch nhập khẩu sầu riêng của Trung Quốc nửa đầu năm 2026 theo nước

triệu USD01.0002.0003.0004.0003.790846Thái LanViệt NamThái Lan 3.790 triệu USDViệt Nam 846 triệu USD
Xem số liệu
Đơn vị: triệu USDGiá trị
Thái Lan3.790
Việt Nam846
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: Hải quan Trung Quốc qua Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), 11/08/2026

Vụ rộ của Thái Lan rơi vào khoảng tháng 4–6, theo Văn phòng Kinh tế Nông nghiệp Thái Lan (OAE). Giai đoạn này trùng lúc miền Tây Việt Nam vào vụ, nên hàng hai nước cùng vào chợ Trung Quốc một lúc. Đợt giảm giá ở chợ Xinfadi tháng 5/2026 nêu ở phần đầu bài diễn ra trong chính giai đoạn đó.

Đầu ra ngoài Trung Quốc cũng đang mở rộng: Ấn Độ đồng ý nhập sầu riêng tươi Việt Nam từ tháng 7/2026, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Câu hỏi sầu riêng xuất sang Mỹ, Úc, Hàn Quốc có được giá hơn Trung Quốc không được phân tích trên trang riêng.

Các yếu tố này không tác động đều lên mọi nơi. Mỗi vùng trồng nhận chúng vào một thời điểm khác nhau.

Vì sao giá sầu riêng mỗi vùng trồng khác nhau?

Giá sầu riêng mỗi vùng trồng khác nhau vì ba lý do: các vùng thu hoạch vào những thời điểm khác nhau, có cơ cấu giống và chất lượng khác nhau, và ở xa gần khác nhau so với kho đóng gói, cửa khẩu. Trong cùng một ngày, vùng đang đầu vụ có ít hàng hơn vùng đang rộ vụ, nên người mua phải trả cao hơn để có hàng.

Mức chênh thực tế giữa các tỉnh được cập nhật trong mục giá sầu riêng tại vườn hôm nay theo từng vùng.

Hai trái sầu riêng gai xanh treo trên cành trong vườn cây nhiệt đới
Ảnh minh họa: Jess Ho / Pexels (Pexels License)

Lý do có sức nặng lớn nhất là lịch thu hoạch.

Lịch thu hoạch lệch nhau giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và miền Tây

Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và miền Tây thu hoạch lệch nhau. Vì vậy giá đầu vụ ở vùng này thường cao hơn giá giữa vụ ở vùng khác, và Việt Nam có hàng xuất khẩu ở nhiều thời điểm trong năm. Thời vụ thu hoạch chính của từng vùng được nêu trong thuyết minh dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về sầu riêng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

VùngThời vụ thu hoạch chínhTác động lên giá
Tây NguyênTháng 8–10Vào vụ muộn nhất, khi hàng chính vụ ở miền Tây đã qua, nên ít bị trùng vụ trong nước
Đông Nam BộTháng 5–7Gối đầu với miền Tây, làm cung trong nước dồn lên giữa năm
Đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây)Tháng 4–6; có thể rải vụ quanh năm nhờ chủ động nước tưới và kỹ thuật xử lý ra hoaVào vụ sớm nhất; hàng rải vụ bán vào lúc các vùng khác không có trái

Đầu vụ, ít vùng có hàng nên giá cao. Rộ vụ, nhiều vườn cắt cùng lúc nên giá giảm. Cuối vụ, lượng hàng thưa dần và giá có thể nhích lên. Dịp Tết nằm ngoài thời vụ chính của cả ba vùng, nên hàng có được lúc đó chủ yếu là hàng rải vụ ở miền Tây, và loại hàng này được giá vì nơi khác không có trái.

Hai vùng có cách hình thành giá khác nhau rõ nhất là Tây Nguyên và miền Tây.

Giá sầu riêng ở Tây Nguyên và miền Tây hình thành ra sao?

Giá sầu riêng ở Tây Nguyên và miền Tây đều hình thành từ đơn hàng xuất khẩu truyền ngược về vườn. Hai vùng khác nhau ở thời điểm vào vụ, cách rải hàng trong năm và rủi ro riêng của từng nơi.

Tây Nguyên vào vụ muộn, khoảng tháng 8–10, nên giá vườn ở đây chịu mặt bằng giá của những tháng đó thay vì giữa năm. Ở Đắk Lắk đã có nhà máy đông lạnh xuất chính ngạch đặt gần vùng trồng. Ngày 24/3/2025, lô sầu riêng đông lạnh chính ngạch đầu tiên 24 tấn của Công ty Cổ phần Nông sản Nam Đô đi từ nhà máy ở Krông Pắc (Đắk Lắk) sang Trung Quốc, theo Báo Nông nghiệp và Môi trường. Một nhà máy cấp đông gần vùng trồng cho nhà vườn thêm một kênh bán ngoài hàng tươi.

Miền Tây vào vụ sớm và có thể rải vụ quanh năm nhờ chủ động nước tưới, xử lý ra hoa. Cách làm này giúp vùng có hàng vào lúc nơi khác không có trái, nhưng đòi hỏi đầu tư thêm và phụ thuộc thời tiết từng năm.

Cùng một mức giá xuất khẩu, giá vườn hai vùng vẫn chênh nhau vì ba điều: quãng đường tới kho đóng gói và cửa khẩu khác nhau, tỷ lệ trái đạt cấp cao khác nhau, và hai vùng thường ở hai giai đoạn khác nhau của vụ.

Khác biệt giữa các vùng giải thích được độ chênh, nhưng chưa giải thích vì sao giá có lúc đổi chiều rất nhanh.

Vì sao giá sầu riêng lên xuống thất thường?

Giá sầu riêng lên xuống thất thường vì bốn lý do. Đầu ra dựa nặng vào một thị trường. Trái chín không chờ được lâu. Hợp đồng mua bán ở vườn ít ràng buộc. Khi thiếu hàng, người mua tranh nhau. Vì vậy mỗi biến động ở đầu ra truyền về vườn nhanh và mạnh hơn.

  1. Phụ thuộc một thị trường: với khoảng 95% kim ngạch nằm ở Trung Quốc, một thay đổi về giá hay thủ tục ở đó tác động lên gần như toàn bộ lượng hàng.
  2. Trái chín không giữ được: sầu riêng tươi đến độ cắt thì phải bán, nhà vườn khó giữ lại để chờ giá.
  3. Hợp đồng lỏng: giá được chốt sớm nhưng hàng giao muộn, trong khi ràng buộc giữa hai bên ít.
  4. Tâm lý tranh mua: khi thiếu hàng, thương lái đua nhau trả giá, đẩy giá vườn lên nhanh.

Cách bốn lực này hiện lên trong từng phiên giá được giải thích ở mục vì sao giá sầu riêng hôm nay tăng giảm.

Nguyên nhân dễ thấy nhất nằm ngay trong cách mua bán ở vườn.

Hợp đồng bao vườn, đặt cọc và bẻ kèo làm giá biến động mạnh hơn thế nào?

Hợp đồng bao vườn và đặt cọc làm giá biến động mạnh hơn vì giá được chốt sớm nhưng hàng giao muộn. Khi giá thị trường lệch xa mức đã chốt, một bên có lý do bẻ kèo, tức không làm đúng thỏa thuận. Lúc đó một lượng lớn hàng bị bung ra hoặc bị tranh mua cùng lúc.

  1. Chốt giá và đặt cọc: người mua trả trước một phần tiền để giữ cả vườn với giá đã thỏa thuận.
  2. Giá thị trường thay đổi trong khoảng thời gian từ ngày chốt tới ngày cắt.
  3. Một bên bẻ kèo: khi giá giảm, người mua có thể bỏ cọc hoặc đòi giảm giá; khi giá tăng, nhà vườn có thể bán cho người trả cao hơn.

Năm 2023 ở Đắk Lắk, một số nông dân hủy cọc đã ký để bán cho người trả giá cao hơn, khiến doanh nghiệp khó giao đủ hàng cho đơn xuất khẩu, theo VnExpress ngày 5/8/2023 và Nhà Đầu Tư ngày 13/8/2023.

Khi nhiều vườn cùng bị bỏ cọc trong lúc giá giảm, lượng hàng lớn bung ra thị trường một lúc và giá chung giảm sâu thêm. Khi giá tăng, việc tranh giữ hàng đã cọc đẩy giá vườn lên nhanh hơn mức đơn hàng cho phép.

Bẻ kèo thường xảy ra sau một giai đoạn giá vườn bị đẩy lên quá nhanh.

Tranh mua tranh bán có đẩy giá vườn vượt mức đơn hàng chịu được không?

Có, nhưng chỉ trong ngắn hạn. Khi nhiều thương lái tranh hàng, giá vườn bị đẩy vượt mức mà đơn hàng xuất khẩu chịu được, rồi bị kéo về khi doanh nghiệp không bán được với giá đó ở Trung Quốc.

Đầu vụ, hàng còn ít trong khi đơn đã ký phải giao đúng hạn, nên người mua chấp nhận trả cao để giữ nguồn. Năm 2023 ở Đắk Lắk, số thương lái thu mua sầu riêng tăng mạnh, có cả người trước đây làm bất động sản, theo VnExpress và Nhà Đầu Tư.

Mức đơn hàng chịu được bằng giá doanh nghiệp bán được ở Trung Quốc trừ chi phí của các tầng phía sau vườn: tuyển lựa, kiểm nghiệm, đóng gói, vận chuyển, thông quan và phần rủi ro. Khi giá vườn vượt mức này, thị trường điều chỉnh theo ba cách: doanh nghiệp hạ giá thu mua, người đã đặt cọc bỏ cọc, hoặc doanh nghiệp tạm ngừng mua.

Muốn biết giá đang hợp lý hay bị đẩy quá đà, trước hết phải đọc đúng một bảng giá.

Làm thế nào để đọc đúng một bảng giá sầu riêng?

Đọc đúng một bảng giá sầu riêng là xác định mỗi con số thuộc tầng giá nào, cấp hàng nào, giống nào, vùng nào và ngày nào, trước khi đem so với con số khác. Hai bảng giá cùng ngày có thể chênh xa nhau chỉ vì một bảng ghi giá tại vườn, bảng kia ghi giá giao kho.

Việc đọc gồm hai bước: hiểu nhãn cấp hàng, rồi kiểm các thông tin đi kèm mỗi con số. Chỗ gây nhầm nhiều nhất là các nhãn cấp hàng.

Hàng xô khác loại A, loại B và hàng dạt ra sao?

Hàng xô là trái bán gộp, chưa phân loại. Loại A, loại B và hàng dạt là các cấp sau tuyển lựa. Theo cách gọi phổ biến của thương lái, bốn nhãn được hiểu như sau:

  • Loại A: trái đạt chuẩn xuất khẩu tốt nhất về hình thức và trọng lượng, thường thấy ở giá giao kho và giá xuất khẩu.
  • Loại B: trái kém loại A về hình thức hoặc trọng lượng, vẫn được thu mua nhưng giá thấp hơn.
  • Hàng dạt: trái không đạt chuẩn xuất khẩu sau khi tuyển lựa.
  • Hàng xô: trái bán gộp cả vườn hoặc cả lô, chưa tách cấp, thường gặp ở giá tại vườn.

Không thể so giá hàng xô với giá loại A, vì một kg hàng xô gồm cả trái loại A, loại B lẫn hàng dạt. Giá hàng xô phản ánh tỷ lệ trái tốt trong lô, còn giá loại A chỉ tính phần trái đã được chọn.

Biết nhãn rồi vẫn chưa đủ, mỗi con số còn cần những thông tin đi kèm.

Mỗi con số trong bảng giá cần đi kèm những thông tin nào?

Mỗi con số trong bảng giá sầu riêng cần đi kèm 7 thông tin: giống, cấp hàng, điểm giao, đơn vị, vùng, thời điểm và nguồn. Thiếu một trong số đó thì không so được với con số khác.

  1. Giống: Ri6, sầu Thái hay giống khác.
  2. Cấp hàng: loại A, loại B, hàng dạt hay hàng xô.
  3. Điểm giao: tại vườn hay giao vựa, giao kho.
  4. Đơn vị: đồng/kg hay nhân dân tệ/500 g.
  5. Vùng: tỉnh hoặc vùng trồng của mức giá.
  6. Ngày và giờ cập nhật, tính theo giờ Việt Nam.
  7. Nguồn: báo, cơ quan hay chợ đã công bố mức giá.

Hai thông tin hay bị bỏ sót nhất là điểm giao và đơn vị. Có quy đổi thì phải ghi thêm tỷ giá, loại tỷ giá và ngày quy đổi, vì riêng Vietcombank lúc 14 giờ 32 ngày 11/10/2026 đã có ba mức nhân dân tệ khác nhau: 3.766,72 đồng mua tiền mặt, 3.804,76 đồng mua chuyển khoản và 3.926,71 đồng bán ra.

Giá sầu riêng đi từ đơn hàng xuất khẩu ngược về vườn, qua 4 tầng giá, và chịu tác động của 4 nhóm yếu tố từ mùa vụ, kiểm dịch tới cạnh tranh nước ngoài. Mức giá mới nhất được theo dõi ở giá sầu riêng mới nhất theo từng vùng trồng, còn lượng hàng đi Trung Quốc nằm trong diễn biến xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc.