Ba thuộc tính giúp nhận diện Arabica nhanh nhất. Về thực vật, đây là cây tứ bội, tức có bốn bộ nhiễm sắc thể, và phần lớn tự thụ phấn. Về canh tác, Arabica cần vùng cao, khí hậu mát và có mùa khô rõ. Về thị trường, giá tham chiếu là hợp đồng kỳ hạn Coffee "C", tức hợp đồng mua bán cà phê giao vào một tháng định trước.

Cà phê Arabica là gì?

Cà phê Arabica là loài Coffea arabica L., có nguồn gốc từ Ethiopia, cho hạt ít caffeine hơn Robusta và có sàn giao dịch riêng tại New York. Theo tài liệu cây cà phê của tỉnh Lâm Đồng, tên tiếng Việt của loài là cà phê chè. Theo VKIST, Robusta là cà phê vối, còn Excelsa là cà phê mít.

Theo World Coffee Research, Coffea arabica có bốn bộ nhiễm sắc thể, mỗi bộ 11 chiếc, tổng cộng 44 (2n = 4x = 44). Loài này hình thành từ phép lai giữa hai loài lưỡng bội là Coffea canephora và Coffea eugenioides. Một nghiên cứu đăng trên Scientific Reports ngày 13/3/2020 kết luận bộ gen ấy bắt nguồn từ một lần đa bội hóa, tức một lần tăng số bộ nhiễm sắc thể, duy nhất. Hệ quả là biến dị di truyền của Arabica rất thấp, cả ở cây hoang dại lẫn cây trồng. Tài liệu của tỉnh Lâm Đồng ghi cà phê chè tự thụ phấn khoảng trên dưới 90%, còn cà phê vối thụ phấn chéo.

Với thị trường, Arabica là một mặt hàng tách biệt chứ không chỉ là một giống cây. ICE Futures U.S. gọi Coffee "C" là hợp đồng chuẩn của thế giới cho Arabica. Robusta có hợp đồng chuẩn riêng trên ICE Futures Europe. Arabica là loài được trồng nhiều nhất, nhưng tỷ trọng ấy thay đổi theo từng niên vụ.

Vị trí của Arabica trong sản lượng cà phê thế giới

Theo bảng tổng hợp của USDA FAS tạo ngày 22/07/2026, sản lượng Arabica thế giới niên vụ 2026/27 dự báo đạt 105,867 triệu bao 60 kg, khoảng 6,35 triệu tấn. Con số này bằng khoảng 55,8% tổng sản lượng 189,667 triệu bao. Ở niên vụ 2024/25, tỷ trọng là 57,8%. Niên vụ 2025/26, tỷ trọng giảm còn 52,8% khi Arabica xuống 94,44 triệu bao.

Tỷ trọng đổi theo năm vì hai loài không cùng nhịp. USDA cho biết phần lớn biến động hằng năm của sản lượng Arabica đến từ chu kỳ năm được mùa, năm mất mùa. Robusta tăng từ 74,54 triệu bao (2024/25) lên 83,8 triệu bao (2026/27), với các nước sản xuất lớn là Việt Nam, Brazil, Indonesia, Uganda và Ấn Độ. Davis và cộng sự từng ghi Arabica chiếm khoảng 70% sản lượng thương mại trong nghiên cứu năm 2012. Vì vậy, con số mà mỗi trang dẫn lại phụ thuộc vào năm và nguồn được dùng.

Sản lượng Arabica giảm ở niên vụ 2025/26 rồi tăng mạnh trở lại. Trong khi đó, Robusta tăng mạnh ở niên vụ 2025/26 rồi gần như đi ngang.

Sản lượng cà phê thế giới theo loài

nghìn bao 60 kg050.000100.000150.000102.27674.54094.44084.390105.86783.8002024/252025/262026/272024/25 Arabica: 102.276 nghìn bao 60 kg Robusta: 74.540 nghìn bao 60 kg2025/26 Arabica: 94.440 nghìn bao 60 kg Robusta: 84.390 nghìn bao 60 kg2026/27 Arabica: 105.867 nghìn bao 60 kg Robusta: 83.800 nghìn bao 60 kg

■Arabica ■Robusta

Xem số liệu
Đơn vị: nghìn bao 60 kgArabicaRobusta
2024/25102.27674.540
2025/2694.44084.390
2026/27105.86783.800
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: USDA FAS PSD Online, 22/07/2026

Với hơn một nửa sản lượng, diễn biến của Arabica kéo theo mặt bằng giá chung của cà phê. Điều này thể hiện qua quyền số của các nhóm Arabica trong chỉ số ICO, trình bày ở phần sau. Sức nặng thị trường của Arabica bắt đầu từ chính đặc điểm của hạt.

Đặc điểm của hạt cà phê Arabica

Hạt Arabica được nhận biết qua bốn nhóm đặc điểm: hình dáng và cỡ hạt, hàm lượng caffeine, thành phần đường và chất béo, và điều kiện vùng trồng. Các đặc điểm này được đo trong nghiên cứu khoa học và trong quy trình phân hạng của sàn. Vì vậy, chúng ảnh hưởng trực tiếp tới cách một lô hàng được định giá.

Cận cảnh hạt cà phê nhân xanh chưa rang sau khi thu hoạch
Ảnh minh họa: Maksim Goncharenok / Pexels (Pexels License)

Hình dáng hạt và cách phân hạng

Trong thương mại, hạt cà phê được phân loại trước hết theo loài, sau đó theo dạng hạt dẹt (chato) và hạt tròn (moca, peaberry), dựa vào cỡ và hình dáng hạt. Đây là cách phân loại trong bản tổng hợp tiêu chuẩn chất lượng quốc gia mà ICO trình Hội đồng Cà phê Quốc tế tháng 9/2018. Tài liệu Arabica của FAO mô tả cỡ hạt "bold" là loại nằm giữa hạt lớn và hạt trung bình, có tỷ lệ rộng trên dài lớn hơn hạt lớn.

Trên sàn ICE, hình dáng và chất lượng hạt được kiểm qua quy trình riêng. Mỗi lô Coffee "C" phải được lấy mẫu, phân hạng, cân và chứng nhận, rồi mới được cấp Certificate of Grade (chứng nhận phân hạng). Khác biệt bên trong hạt còn quan trọng hơn hình dáng, trước hết là caffeine.

Hàm lượng caffeine trong cà phê Arabica

Hạt Arabica nhân xanh chứa khoảng 0,90–1,3% caffeine, theo số liệu của Farah (2012) được Caporaso và cộng sự dẫn trên Food Research International năm 2018. Hạt Robusta chứa 1,51–3,33% caffeine theo trọng lượng khô, theo Ky và cộng sự (Food Chemistry, 2001). Mức cao nhất của Arabica trong khoảng này vẫn thấp hơn mức thấp nhất của Robusta.

Mỗi nguồn ghi một khoảng khác nhau vì mỗi nghiên cứu đo một bộ mẫu riêng, theo cách tính riêng. Số của Ky và cộng sự tính theo trọng lượng khô. Khoảng của Farah được dẫn chung cho hạt nhân xanh. Riêng bộ mẫu của Caporaso và cộng sự gồm hạt xanh từ 13 nước, trong đó có Brazil, Colombia, Ethiopia, Kenya và Việt Nam, chia thành 27 lô, mỗi lô 10 hạt. Một bộ mẫu trải rộng theo xuất xứ như vậy cho thấy vì sao con số caffeine nên được đọc như một khoảng, không phải một điểm.

Hàm lượng đường và chất béo

Hạt xanh Arabica chứa nhiều đường sucrose và chất béo hơn Robusta. Theo Clarke và Vitzthum (2008), sucrose chiếm 6,25–8,45% ở Arabica và 0,9–4,85% ở Robusta. Chất béo, hay dầu cà phê, chiếm 15–17% ở Arabica và 7–10% ở Robusta, theo Farah (2012). Cả hai bộ số đều được Caporaso và cộng sự tổng hợp năm 2018.

Khoảng sucrose cũng lệch giữa các nghiên cứu. Ky và cộng sự (2001) ghi Robusta có 4,05–7,05% sucrose theo trọng lượng khô. Khảo sát 14 loài cà phê của Campa và cộng sự (2004) cho khoảng 3,8–10,7%. Cách chế biến cũng làm kết quả thay đổi: hạt chế biến khô (phơi nguyên quả) và hạt chế biến ướt (bóc thịt quả trước khi làm khô) có hàm lượng sucrose thuộc các khoảng khác nhau. Thành phần hạt gắn chặt với nơi cây được trồng.

Độ cao và khí hậu quyết định chất lượng hạt

Arabica cho hạt tốt nhất ở vùng cao, khí hậu mát và có mùa khô rõ. Theo tài liệu Arabica của FAO soạn cho Lào, ở vùng cao quả chín chậm hơn, nên độ chua, hương thơm và cỡ hạt phát triển đầy đủ. Tài liệu này nêu ba ngưỡng tham khảo:

  • Độ cao: trên 1.000 m so với mực nước biển; Arabica trồng thấp không đạt chất lượng mà thị trường thế giới đòi hỏi.
  • Nhiệt độ: ban ngày tối ưu 20–24°C; trung bình dưới 15°C cây chậm lớn, trên 30°C cây bị stress và ngừng quang hợp.
  • Lượng mưa: trên 1.200–1.500 mm/năm, phân bố đều trong 7–9 tháng, kèm 3–4 tháng khô để cây ra hoa đồng loạt.

Các nguồn khác đưa ra khoảng gần tương tự. Davis và cộng sự (2012) ghi nhiệt độ trung bình năm tối ưu là 18–21°C. Trên 23°C, quả phát triển và chín nhanh hơn, thường làm giảm chất lượng đồ uống. Arabica hoang dại mọc ở độ cao 950–1.950 m. Tài liệu của tỉnh Lâm Đồng ghi cà phê chè thường trồng ở 600–2.500 m, nhiệt độ thích hợp 18–25°C.

Chính điều kiện này tạo ra rủi ro sản lượng. Arabica dễ bị sương giá, nên FAO khuyên trồng cây che bóng và tránh chỗ trũng đọng khí lạnh. Theo World Coffee Research, gỉ sắt lá do nấm Hemileia vastatrix gây ra là một trong những mối đe dọa lớn nhất với sản xuất cà phê. Bệnh làm rụng lá và có thể gây mất mùa nặng. Các rủi ro này được phân tích thêm ở mục yếu tố tác động tới giá.

Phân biệt cà phê Arabica và Robusta

Arabica và Robusta khác nhau ở cả cây, hạt, điều kiện trồng và cách được mua bán trên thị trường thế giới. Với người làm cà phê Việt Nam, sự khác biệt này đáng chú ý vì cả nước trồng chủ yếu Robusta. Trong khi đó, giá Arabica lại được định ở một sàn khác, bằng một đơn vị khác.

Bảng so sánh Arabica và Robusta theo 7 tiêu chí

Arabica khác Robusta ở 7 tiêu chí chính, từ tên khoa học, cách thụ phấn đến sàn giao dịch và đơn vị giá. Bảng dưới gom số liệu từ tài liệu của tỉnh Lâm Đồng, World Coffee Research, FAO, các nghiên cứu được Caporaso và cộng sự tổng hợp, USDA FAS và ICE.

Tiêu chíArabicaRobusta
Tên khoa học, tên tiếng ViệtCoffea arabica, cà phê chèCoffea canephora, cà phê vối
Bộ nhiễm sắc thể, cách thụ phấnTứ bội (2n = 44), tự thụ phấn khoảng 90%Lưỡng bội, thụ phấn chéo
Độ cao trồng (FAO)1.000–2.000 mNgang mực nước biển tới 1.000 m
Caffeine trong hạt xanh0,90–1,3%1,51–3,33% (trọng lượng khô)
Sucrose; chất béo trong hạt xanh6,25–8,45%; 15–17%0,9–4,85%; 7–10%
Sản lượng thế giới 2026/27 (USDA dự báo)105,867 triệu bao 60 kg83,8 triệu bao 60 kg
Sàn giao dịch, đơn vị giáICE Futures U.S. (New York), cent/lbICE Futures Europe (London), USD/tấn

Ở Việt Nam, cà phê vối chiếm hơn 90% diện tích, cà phê chè gần 10% và cà phê mít khoảng 1%, theo Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị (bài ngày 05/03/2025). Tiêu chí cuối của bảng là khác biệt lớn nhất với người buôn bán cà phê.

Hai mặt hàng, hai sàn giao dịch, hai đơn vị giá

Arabica và Robusta là hai mặt hàng riêng. Arabica giao dịch qua hợp đồng Coffee "C" (mã KC) trên ICE Futures U.S. tại New York, giá tính bằng cent/lb. Robusta giao dịch trên ICE Futures Europe, giá tính bằng USD/tấn.

Pound (lb) là đơn vị khối lượng, bằng khoảng 0,454 kg. Vì hai sàn dùng hai đơn vị khác nhau, người đọc không thể đặt hai con số cạnh nhau để so. Trong báo cáo thị trường hằng tháng, ICO phải quy giá Robusta London sang US cent/lb trước khi so với Arabica New York. Cách vận hành của sàn giao dịch Arabica được trình bày ở trang riêng. Để hiểu giá Arabica, trước hết cần biết loài này được trồng ở đâu.

Cà phê Arabica được trồng nhiều nhất ở những nước nào?

Brazil là nước sản xuất Arabica lớn nhất thế giới, tiếp theo là Colombia, Ethiopia, Honduras và Peru, theo dự báo niên vụ 2026/27 trong bảng tổng hợp của USDA FAS ngày 22/07/2026. Riêng Brazil dự kiến chiếm khoảng 44,9% sản lượng Arabica thế giới cùng niên vụ.

  1. Brazil: 47,5 triệu bao, khoảng 2,85 triệu tấn, tăng 9,5 triệu bao so với niên vụ trước. Theo USDA, bang Minas Gerais trồng hơn 70% lượng Arabica của nước này. Brazil thuộc nhóm Brazilian Naturals của ICO.
  2. Colombia: 13,4 triệu bao, khoảng 804.000 tấn, tăng từ 12,5 triệu bao. Theo ICE, Arabica Colombia được giao theo Coffee "C" với mức cộng 1.000 điểm. Colombia thuộc nhóm Colombian Milds.
  3. Ethiopia: 12,1 triệu bao, khoảng 726.000 tấn. Đây là nơi khởi nguồn và tập trung phần lớn đa dạng di truyền của loài, theo World Coffee Research. Ethiopia cũng thuộc nhóm Brazilian Naturals.
  4. Honduras: 6,03 triệu bao, khoảng 361.800 tấn, tăng liên tiếp từ mức 5,2 triệu bao của niên vụ 2024/25. Honduras thuộc nhóm xuất xứ giao ngang giá trên sàn ICE. Honduras thuộc nhóm Other Milds.
  5. Peru: 4,78 triệu bao, khoảng 286.800 tấn. Peru cũng thuộc nhóm xuất xứ giao ngang giá trên ICE.

Brazil là nước có sản lượng dao động mạnh nhất: giảm 6,5 triệu bao ở niên vụ 2025/26 rồi tăng 9,5 triệu bao ở niên vụ sau.

Sản lượng Arabica của 5 nước lớn nhất

nghìn bao 60 kg020.00040.00060.000BrazilColombiaEthiopiaHondurasPeruBrazil Niên vụ 2024/25: 44.500 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2025/26: 38.000 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2026/27: 47.500 nghìn bao 60 kg (+25 % so với Niên vụ 2025/26)Colombia Niên vụ 2024/25: 14.800 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2025/26: 12.500 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2026/27: 13.400 nghìn bao 60 kg (+7,2 % so với Niên vụ 2025/26)Ethiopia Niên vụ 2024/25: 11.460 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2025/26: 11.560 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2026/27: 12.100 nghìn bao 60 kg (+4,7 % so với Niên vụ 2025/26)Honduras Niên vụ 2024/25: 5.200 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2025/26: 5.530 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2026/27: 6.030 nghìn bao 60 kg (+9 % so với Niên vụ 2025/26)Peru Niên vụ 2024/25: 4.120 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2025/26: 4.764 nghìn bao 60 kg Niên vụ 2026/27: 4.780 nghìn bao 60 kg (+0,3 % so với Niên vụ 2025/26)

■Niên vụ 2024/25 ■Niên vụ 2025/26 ■Niên vụ 2026/27

Xem số liệu
Đơn vị: nghìn bao 60 kgNiên vụ 2024/25Niên vụ 2025/26Niên vụ 2026/27
Brazil44.50038.00047.500
Colombia14.80012.50013.400
Ethiopia11.46011.56012.100
Honduras5.2005.5306.030
Peru4.1204.7644.780
Biểu đồ: Hỏa Tốc 24h – Nguồn: USDA FAS PSD Online, 22/07/2026

Ở Brazil, Arabica ra hoa vào tháng 9 và tháng 10, theo USDA. Theo USDA GAIN tháng 5/2021, phần lớn Arabica Brazil vụ 2021/22 dự kiến bắt đầu thu hoạch vào tháng 5–6. Brazil chiếm gần 40% sản lượng cà phê thế giới, và USDA coi thời tiết ở Minas Gerais là chỉ báo chính cho tình hình thị trường thế giới. Đó là lý do giá Arabica chạy theo mùa vụ Brazil.

Việt Nam đi theo hướng ngược lại: đây là nước sản xuất Robusta lớn nhất với 31,4 triệu bao, còn Arabica chỉ đạt 1,1 triệu bao trong niên vụ 2026/27, theo USDA.

Đồi cà phê trồng theo hàng trên sườn núi vùng cao nhiệt đới
Ảnh minh họa: Quang Nguyen Vinh / Pexels

Từ nhiều nước trồng khác nhau, thị trường cần một cách chung để định giá Arabica.

Giá cà phê Arabica được hình thành như thế nào?

Giá Arabica lấy mốc từ giá hợp đồng kỳ hạn Coffee "C" trên sàn New York. Ngay trong hợp đồng này, ICE quy định mức cộng hoặc trừ theo nước xuất xứ của lô hàng giao. Lô hàng còn bị trừ giá theo tuổi, tính từ ngày được cấp chứng nhận phân hạng. Bên cạnh đó, ICO theo dõi mặt bằng giá chung bằng chỉ báo của từng nhóm cà phê.

Bảng dưới liệt kê các mức theo trang đặc tả Coffee "C" của ICE Futures U.S. (truy cập 10/10/2026). "Điểm" là đơn vị mà ICE dùng để ghi mức cộng, trừ so với giá hợp đồng.

Mức so với giá hợp đồngNước xuất xứ
Cộng 1.000 điểmColombia, Costa Rica, Kenya
Cộng 500 điểmGuatemala
Ngang giáMexico, El Salvador, Nicaragua, Papua New Guinea, Panama, Tanzania, Uganda, Honduras, Peru
Trừ 100 điểmBurundi, Rwanda, Venezuela, Ấn Độ
Trừ 400 điểmCộng hòa Dominica, Ecuador
Trừ 600 điểmBrazil; Việt Nam (từ kỳ hạn tháng 5/2027)

Brazil, nước sản xuất lớn nhất, nằm ở mức trừ sâu nhất của bảng. Ngoài giá sàn, ICO thu thập mỗi ngày giá giao ngay tại cảng (ex-dock), tức giá hàng đã dỡ tại cảng và giao gần, của các loại cà phê ở từng thị trường. Từ đó, ICO tính chỉ báo cho từng nhóm và một chỉ số chung cho mọi loại cà phê.

Chỉ số giá tổng hợp ICO là gì?

Chỉ số giá tổng hợp ICO (ICO Composite Indicator Price, viết tắt I-CIP) là mức giá đại diện cho cà phê nhân xanh trên thế giới. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) tính chỉ số này từ giá của bốn nhóm: Colombian Milds, Other Milds, Brazilian Naturals và Robustas. Đơn vị của chỉ số là US cent/lb.

Theo quy tắc của ICO áp dụng từ 01/10/2021, quyền số là Colombian Milds 12%, Other Milds 21%, Brazilian Naturals 31% và Robustas 36%. Quyền số dựa trên lượng xuất khẩu bình quân sang Mỹ và EU giai đoạn 2017–2020, và được xem xét lại mỗi hai năm. Cộng ba nhóm đầu, Arabica chiếm 64% chỉ số. I-CIP tháng 9/2026 bình quân 262,18 US cent/lb, giảm 8,7% so với tháng 8/2026, theo trang chủ ICO.

Chỉ số này khác giá sàn New York. I-CIP được tính từ giá giao ngay tại cảng của bốn nhóm, kể cả Robustas, còn Coffee "C" là giá kỳ hạn của riêng Arabica. Vì vậy, I-CIP phản ánh mặt bằng giá chung hơn là giá của một lô hàng cụ thể. ICO đặt trụ sở tại London và hoạt động theo Hiệp định Cà phê Quốc tế 2022.

Colombian Milds, Other Milds và Brazilian Naturals là gì?

Colombian Milds, Other Milds và Brazilian Naturals là ba nhóm Arabica mà ICO dùng để báo cáo xuất khẩu và giá; nhóm thứ tư trong chỉ số tổng hợp là Robustas. Tài liệu ED-2050 của ICO, giai đoạn khoảng 1998–2003, xếp các nước vào từng nhóm như bảng dưới. ICO hiện vẫn báo cáo xuất khẩu và giá theo bốn nhóm này.

NhómNước xuất khẩu (tài liệu ED-2050)Quyền số trong I-CIP từ 01/10/2021Tỷ phần thị trường EU / Mỹ
Colombian MildsColombia, Kenya, Tanzania12%42% / 58%
Other MildsCác nước Arabica khác, như Guatemala, Honduras, Nicaragua, Costa Rica, Bolivia, Burundi21%64% / 36%
Brazilian NaturalsBrazil, Ethiopia, Paraguay31%73% / 27%

Tỷ phần thị trường EU và Mỹ là phần mà ICO dùng cho mỗi thị trường khi tính chỉ báo của nhóm. Giá các nhóm khác nhau rõ rệt. Theo ICO, tháng 7/2021, Colombian Milds bình quân 218,66 US cent/lb, còn Brazilian Naturals bình quân 160,62 US cent/lb. Giá các nhóm này đều neo vào giá trên sàn tham chiếu.

Sàn giao dịch tham chiếu của Arabica

Sàn tham chiếu của Arabica là ICE Futures U.S. tại New York, nơi hợp đồng Coffee "C" được niêm yết bằng cent/lb. ICE gọi đây là hợp đồng chuẩn của thế giới cho Arabica, nên mức cộng trừ theo xuất xứ đều tính quanh giá này. Quy mô, giờ giao dịch và các kỳ hạn được trình bày ở trang riêng về sàn tham chiếu của Arabica.

4 yếu tố tác động tới giá Arabica

Giá Arabica chịu tác động của bốn yếu tố chính: thời tiết và mùa vụ Brazil, tồn kho trên sàn và dòng tiền của các quỹ, tỷ giá real/USD, cùng nhu cầu tiêu thụ và chính sách thương mại. Nguồn cung Brazil nặng nhất vì Brazil là nước sản xuất Arabica lớn nhất thế giới.

Thời tiết và chu kỳ được mùa, mất mùa của Arabica Brazil

Arabica Brazil có chu kỳ hai năm: một năm được mùa (on-year, năng suất cao) xen một năm mất mùa (off-year, năng suất thấp). USDA giải thích rằng năng lượng của cây chuyển qua lại giữa nuôi quả và sinh trưởng thân lá. Vùng cà phê Brazil nằm trên cao nguyên và đồi thoải, thời tiết khá đồng nhất. Vì vậy, sương giá, nắng nóng hoặc hạn hán thường đẩy cây trên diện rộng vào cùng một năm mất mùa. Cắt tỉa và thu hoạch bằng máy trên địa hình bằng phẳng càng làm sản lượng đồng bộ.

Ba giai đoạn trong năm khiến giá nhạy với thời tiết Brazil:

  • Ra hoa: tháng 9 và tháng 10, theo USDA; ICO gọi mùa ra hoa năm 2026 là giai đoạn then chốt cho vụ Arabica 2027/28.
  • Sương giá: năm 2021 có ba đợt sương giá nặng vào 30/6, 20/7 và 30/7 ở Minas Gerais, São Paulo và Paraná.
  • Thu hoạch: vụ 2021/22 dự kiến bắt đầu vào tháng 5–6, theo USDA GAIN.

Đợt sương giá năm 2021 rơi đúng năm mất mùa. Tháng 5/2021, USDA GAIN dự báo sản lượng Brazil vụ 2021/22 giảm 19% xuống 56,3 triệu bao, trong đó Arabica 35 triệu bao. Theo số Conab được USDA dẫn tháng 11/2021, sương giá ảnh hưởng 150.000–200.000 ha trên tổng 2,48 triệu ha cà phê. ICO ghi I-CIP bình quân tháng 7/2021 tăng 7,9%, từ 141,03 lên 152,24 US cent/lb, cao nhất kể từ tháng 11/2014.

Theo USDA, năng suất bất ổn từ niên vụ 2021/22 vì hạn hán, nắng nóng, sương giá rồi mưa quá nhiều. Mức 47,5 triệu bao dự báo cho niên vụ 2026/27 chấm dứt 5 năm sản lượng dưới tiềm năng. USDA GAIN tháng 6/2026 nêu khả năng El Niño, hiện tượng mặt biển xích đạo Thái Bình Dương ấm lên bất thường, ảnh hưởng tới cuối vụ thu hoạch này và chu kỳ 2027/28. Các bản dự báo giá cà phê Arabica được cập nhật ở trang giá sàn New York.

Tồn kho đạt chuẩn trên sàn và dòng tiền của các quỹ

Tồn kho đạt chuẩn (certified stocks) là lượng Arabica trong kho của sàn đã có chứng nhận, sẵn sàng giao theo hợp đồng Coffee "C". ICE công bố báo cáo hằng ngày về lượng cà phê này. Theo ICO, tồn kho Arabica đạt chuẩn tại Mỹ giảm xuống 0,24 triệu bao trong tháng 8/2026, thấp nhất kể từ năm 1999.

Theo quy tắc của ICE, một lô cà phê chỉ được giao theo hợp đồng sau bốn bước.

Sơ đồ bốn bước lấy mẫu, phân hạng, cân và chứng nhận một lô cà phê Arabica
Sơ đồ: Bốn bước để lô Arabica thành hàng đạt chuẩn trên sàn ICE – Nguồn: ICE Futures U.S., quy tắc Coffee C

Chứng nhận phân hạng không hết hạn, nhưng lô hàng bị trừ giá theo tuổi, tính từ ngày cấp. Dòng tiền quỹ được theo dõi qua báo cáo Commitments of Traders (COT) của CFTC, Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Kỳ hạn Mỹ. Báo cáo cho biết vị thế mở, tức số hợp đồng chưa tất toán, ở các thị trường có từ 20 nhà giao dịch thuộc diện báo cáo trở lên. Số liệu chốt cuối ngày thứ Ba và thường công bố lúc 15:30 thứ Sáu, giờ miền Đông Mỹ.

Bản COT dạng phân tách chia nhà giao dịch thành bốn nhóm: Producer/Merchant/Processor/User, Swap Dealers, Managed Money và Other Reportables. Managed Money là nhóm các quỹ được quản lý. Tháng 7/2026, I-CIP tăng 15,4% lên 287,26 US cent/lb. ICO nêu ba nguyên nhân: lo ngại thời tiết Brazil, dự báo El Niño mạnh lên và nguồn Arabica giao ngay khan hiếm.

Tỷ giá đồng real Brazil và đồng USD

Giá Coffee "C" niêm yết bằng USD, còn người trồng Brazil nhận tiền bằng đồng real. Với cùng một mức giá USD, số real thu về thay đổi theo tỷ giá. Vì vậy, tỷ giá real/USD tác động trực tiếp tới thu nhập tính bằng nội tệ của nước xuất khẩu Arabica lớn nhất.

PTAX là tỷ giá real/USD mà Ngân hàng Trung ương Brazil (BCB) công bố cho từng ngày làm việc. Theo bảng PTAX của BCB, 1 USD đổi được 5,20760 real ngày 01/10/2026 và 5,01160 real ngày 08/10/2026. Phép chia hai số này cho thấy cùng một USD bán cà phê đổi được ít hơn khoảng 3,8% real sau một tuần. Với người đọc Việt Nam, giá quy ra đồng/kg còn phụ thuộc thêm tỷ giá USD/VND của ngày quy đổi.

Nhu cầu tiêu thụ và chính sách thương mại

Nhu cầu ở các thị trường lớn như EU, Mỹ và Nhật Bản, cùng thuế quan và quy định nhập khẩu, quyết định lượng Arabica được mua và giao đi. USDA dự báo tiêu thụ cà phê thế giới niên vụ 2026/27 đạt kỷ lục 179,7 triệu bao, tăng mạnh nhất ở EU và Mỹ. Cùng báo cáo tháng 7/2026, USDA hạ dự báo nhập khẩu cà phê nhân của EU xuống 46,5 triệu bao và của Mỹ xuống 23,1 triệu bao. Dự báo xuất khẩu của Brazil bị hạ 3,0 triệu bao, xuống 34,0 triệu bao, vì giao hàng sang hai thị trường này giảm.

Theo USDA, thị trường xuất khẩu lớn nhất của cà phê Colombia là Mỹ, tiếp theo là EU và Nhật Bản. Chính sách thuế của Mỹ với hàng Brazil từ năm 2025 cho thấy quy định nhập khẩu có thể đổi nhiều lần trong vài tháng. Thuế đối ứng là mức thuế Mỹ áp theo từng đối tác thương mại. IEEPA là luật Mỹ về quyền hạn kinh tế trong tình trạng khẩn cấp quốc tế.

NgàyVăn bảnNội dung chính
30/7/2025Sắc lệnh 14323 (Nhà Trắng)Thuế thêm 40% theo giá trị với hàng Brazil từ 06/8/2025; Nhà Trắng cho biết tổng thuế lên 50%
14/11/2025Tóm tắt thông tin của Nhà TrắngĐưa cà phê và chè vào danh sách nông sản không còn chịu thuế đối ứng, hiệu lực từ 13/11/2025
20/11/2025Sắc lệnh 14361 (Nhà Trắng)Một số nông sản Brazil thôi chịu mức thuế thêm của Sắc lệnh 14323, áp dụng từ 13/11/2025
20/02/2026Sắc lệnh 14389 (Nhà Trắng)Chấm dứt các khoản thuế theo IEEPA, gồm thuế của Sắc lệnh 14323; không ảnh hưởng thuế theo Mục 232 và Mục 301
20/7/2026Thông báo của USTRThuế 25% với một số hàng Brazil theo Mục 301, áp dụng từ 22/7/2026, kèm danh mục miễn trừ

Ở phía châu Âu, ICE đã sửa quy tắc Coffee "C" để hỗ trợ việc áp dụng quy định chống phá rừng của EU. Theo đó, Arabica có vận đơn cấp trước ngày 29/6/2023 được xếp vào nhóm hàng tồn cũ (Legacy Stocks). Các yếu tố này để lại dấu vết trên đường giá qua nhiều năm.

Diễn biến giá Arabica qua các năm

Giá Arabica đi theo những chu kỳ tăng giảm lớn, thường gắn với các cú sốc nguồn cung từ Brazil như đợt sương giá năm 2021. Chuỗi số dài hạn nằm ở trang diễn biến giá Arabica qua các năm.

Chênh lệch giá giữa Arabica và Robusta

Arabica thường có giá cao hơn Robusta, và khoảng chênh thay đổi theo từng thời điểm. Muốn so, người đọc phải quy hai đơn vị về một, như cách ICO quy giá Robusta London từ USD/tấn sang US cent/lb. Số liệu từng giai đoạn và cách tính nằm ở trang chênh lệch giá Arabica và Robusta.

Vùng trồng Arabica tại Việt Nam

Việt Nam trồng Arabica chủ yếu ở Sơn La và các tỉnh miền núi phía Bắc, vùng cao Lâm Đồng và Quảng Trị, với tỷ trọng nhỏ so với Robusta. Theo bảng của USDA FAS ngày 22/07/2026, Arabica chỉ chiếm khoảng 3,4% sản lượng cà phê Việt Nam dự báo cho niên vụ 2026/27.

USDA GAIN tháng 5/2026 ghi diện tích Arabica giữ ổn định trong khi Robusta tăng. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng diện tích cà phê cả nước khoảng 730.000 ha. Mục này đi qua ba ý: lịch sử du nhập, các vùng trồng chính và sản lượng mỗi năm.

Chùm quả cà phê Arabica chín đỏ trên cành tại vùng cao Đà Lạt
Ảnh minh họa: 1500m Coffee / Pexels (Pexels License)

Cà phê Arabica du nhập vào Việt Nam từ khi nào?

Theo VKIST, cà phê được các nhà truyền giáo người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu năm 1857, và giống được trồng thử là Arabica. Cây được trồng tại các nhà thờ Công giáo ở miền Bắc như Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sau đó, cây lan sang một số tỉnh miền Trung, rồi tới Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Các mốc tiếp theo giải thích vì sao Robusta về sau vượt Arabica:

  • 1908: Robusta và Excelsa được đưa vào Việt Nam. Sau thời gian trồng thử, Arabica bị kết luận không phù hợp với khí hậu Việt Nam, còn Robusta chỉ phát triển tốt ở miền Nam, theo VKIST.
  • 1918 và 1926: ông Eugène Poilane, người lính và nhà thực vật học Pháp, đi qua Khe Sanh năm 1918, rồi quay lại năm 1926 lập đồn điền cà phê đầu tiên tại Mụ Rôm, theo Báo Điện tử Chính phủ.
  • 1945: cây cà phê có mặt tại Sơn La do người Pháp mang đến, theo Cổng thông tin đối ngoại tỉnh Sơn La.
  • Cuối những năm 1980: giống Catimor, thuộc loài Arabica, được đưa vào sản xuất. Sơn La bắt đầu chương trình phát triển cà phê, và tới những năm 1990 chọn cà phê làm cây trồng chủ lực.

Từ những vùng thử nghiệm ban đầu, Arabica nay tập trung ở ba vùng chính.

Các vùng Arabica chính: Sơn La, Lâm Đồng, Quảng Trị

Ba vùng Arabica chính của Việt Nam là Sơn La, Lâm Đồng và Quảng Trị. Theo Cổng thông tin đối ngoại tỉnh Sơn La (17/02/2026), Sơn La có khoảng 24.300 ha Arabica, lớn nhất cả nước, bằng 47,9% diện tích Arabica toàn quốc. Suy từ hai số này, tổng diện tích Arabica cả nước vào khoảng 50.700 ha.

Tên tỉnh trong bảng dùng theo địa giới từ 01/7/2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Lâm Đồng mới gồm cả Đắk Nông và Bình Thuận cũ; Quảng Trị mới gồm cả Quảng Bình cũ. Các số đo trước ngày này thuộc địa giới cũ.

VùngDiện tích ArabicaGiống được nêuGhi chú vùng trồng
Sơn LaKhoảng 24.300 ha (Cổng thông tin đối ngoại tỉnh Sơn La, 17/02/2026)TH1, TN7, TN9, Starmaya, dùng tái canh hơn 2.800 ha giai đoạn 2021–2025Độ cao 600–1.200 m; sản lượng năm 2025 ước khoảng 38.000 tấn
Lâm ĐồngKhoảng 19.000 ha (Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị, 05/03/2025, địa giới cũ)Typica, Bourbon, Moka, Mundonovo, Caturra, Catuai, Catimor (tài liệu của tỉnh)Tỉnh mới gồm cả Đắk Nông và Bình Thuận cũ từ 01/7/2025
Quảng TrịVùng Khe Sanh hơn 4.000 ha, hơn 3.700 ha cho sản phẩm (Báo Điện tử Chính phủ, 20/09/2026)Catimor là chính; trước đây có Typica, Bourbon, CaturraKhe Sanh – Hướng Phùng cao trung bình 600–800 m; gần 5.000 tấn cà phê nhân mỗi năm

Ngoài ba vùng này, Điện Biên có khoảng 5.000 ha cà phê chè, theo cùng bài của Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị. Quảng Trị đạt giải nhất cà phê đặc sản Arabica năm 2023 và 2024 tại cuộc thi "Cà phê đặc sản Việt Nam". Chỉ dẫn địa lý "Cà phê Sơn La" đã được cấp quyền sử dụng cho 7 đơn vị. Cách nông dân bán Arabica qua hợp đồng bao tiêu hay ký gửi được giải thích ở trang chuỗi thu mua cà phê.

Sản lượng cà phê Arabica của Việt Nam mỗi năm

Việt Nam sản xuất khoảng 1,2 triệu bao 60 kg cà phê Arabica, tương đương 72.000 tấn, trong niên vụ 2025/26, theo bảng của USDA FAS ngày 22/07/2026. Niên vụ 2026/27 được dự báo đạt 1,1 triệu bao, khoảng 66.000 tấn. Tỷ trọng trong bảng là phép tính từ sản lượng Arabica và Robusta của cùng nguồn.

Niên vụSản lượng ArabicaTỷ trọng trong sản lượng cà phê Việt NamNguồn
2024/251.000 nghìn bao, khoảng 60.000 tấnKhoảng 3,4%USDA FAS PSD Online, 22/07/2026
2025/261.200 nghìn bao, khoảng 72.000 tấnKhoảng 3,8%USDA FAS PSD Online, 22/07/2026
2026/27 (dự báo)1.100 nghìn bao, khoảng 66.000 tấnKhoảng 3,4%USDA FAS PSD Online, 22/07/2026

Sản lượng Arabica tăng 20% ở niên vụ 2025/26, rồi được dự báo giảm khoảng 8% ở niên vụ sau. Cùng thời gian, Robusta tăng liên tục từ 28 lên 31,4 triệu bao. Ở cấp tỉnh, Sơn La xuất khẩu khoảng 34.000 tấn cà phê năm 2025, trị giá 100 triệu USD, tăng gần 29% so với năm 2024. Cà phê chiếm gần một nửa tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh. Dù sản lượng nhỏ, giá Arabica vẫn tác động rộng tới ngành cà phê Việt Nam.

Arabica tác động tới Việt Nam thế nào?

Arabica tác động tới Việt Nam qua hai kênh chính. Kênh đầu là thu nhập của các vùng trồng như Sơn La và Khe Sanh. Kênh thứ hai là vị trí của cà phê Việt Nam trên sàn New York, nơi từ kỳ hạn tháng 5/2027 hàng Việt Nam được giao theo Coffee "C". Phân tích đầy đủ về tác động của Arabica tới Việt Nam nằm ở trang riêng.

Làm sao theo dõi giá Arabica mỗi ngày khi bản tin đầy thuật ngữ sàn?

Để theo dõi giá Arabica mỗi ngày, người đọc cần biết bản tin đang nói tới hợp đồng kỳ hạn nào và đơn vị cent/lb nghĩa là gì. Người đọc cũng cần hiểu vì sao phải quy ra đồng/kg mới so được với giá trong nước. Ba thuật ngữ cơ bản xuất hiện trong hầu hết bản tin giá:

  • Coffee "C" (mã KC): hợp đồng kỳ hạn Arabica trên ICE Futures U.S., mỗi hợp đồng 37.500 pound.
  • Kỳ hạn: tháng giao hàng của hợp đồng; Coffee "C" có các kỳ hạn tháng 3, 5, 7, 9 và 12.
  • Cent/lb: giá tính bằng cent Mỹ cho mỗi pound; vì 1 lb bằng 0,45359237 kg, 1 cent/lb tương đương khoảng 2,2 cent/kg.

Giá trong nước tính bằng đồng/kg, nên phải đổi cả đơn vị khối lượng lẫn tiền tệ mới so được. Bảng giá cà phê Arabica hôm nay và hướng dẫn quy đổi giá Arabica từ cent/lb sang đồng/kg nằm ở trang giá sàn New York. Ngoài giá sàn, báo cáo COT của CFTC ra mỗi thứ Sáu và báo cáo thị trường của ICO ra hằng tháng.

Arabica là loài cà phê chè có hạt ít caffeine hơn Robusta. Giá của loài này hình thành từ sàn New York, cộng trừ theo xuất xứ, và luôn nhạy cảm với thời tiết Brazil. Để thấy các cú sốc ấy theo thời gian, người đọc có thể xem đường giá Arabica qua nhiều năm và khoảng chênh giữa Arabica và Robusta.